|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 188/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng, ông Nguyễn Văn Bảng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 179/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thân Đức N, sinh năm 1979. Nơi thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 7/12. Cong ông: Thân Đức H, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Thân Thị L, sinh năm 1952 (đã chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1979; Con: Có 2 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 333 ngày 09/11/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 34 ngày 29/7/2010 của Tòa án nhân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích; Ngày 07/01/2021 bị Công an xã T (nay là phường T), thị xã V, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
* Bị hại: Công ty cổ phần T1
Địa chỉ trụ sở: Số A, ngõ D, phố Đ, tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phùng Thị Vân A – Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đại B (Vắng mặt)
Kỹ sư xây dựng Công ty T1
Nơi thường trú: Xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An
Nơi cư trú: Số A, ngõ D, phố Đ, tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Thân Thị B1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Số nhà B, đường M, tổ dân phố số A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
- Chị Thân Thị N1, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Ngõ C, đường Y, phường Y, quận H, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Võ Nguyễn Thanh N2, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số B ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Đại B, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Kỹ sư xây dựng Công ty T1
Nơi thường trú: Xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An
Nơi cư trú: Số A, ngõ D, phố Đ, tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Đức N đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 333/QĐ-XPHC ngày 09/11/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang đã quyết định phạt tiền 2.500.000 đồng đối với Thân Đức N về hành vi trộm cắp tài sản. Từ ngày 31/5/2024 đến ngày 02/6/2024, Thân Đức N đã thực hiện 03 vụ trộm cắp sắt của Công ty cổ phần T1, địa chỉ số A, tổ A, phố Đ, quận L, thành phố Hà Nội đang thi công xây dựng khu đô thị mới tại thôn T, xã T, thành phố B, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, Thân Đức N điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 98K1-263.00 đi từ nhà đến địa bàn xã T, thành phố B mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi N đi đến khu tập kết vật liệu xây dựng của Công ty cổ phần T1 đang thi công tại thôn T, xã T, thành phố B phát hiện để nguyên vật liệu được phủ bên ngoài bằng bạt. N dừng lại và đỗ xe ở dưới lòng đường cách khu tập kết vật liệu khoảng 20m rồi đi bộ đến khu tập kết. Nhật vén bạt lên thì thấy có nhiều các bó sắt. N dùng hai tay bê lần lượt 03 bó sắt gồm khoảng 17 thanh sắt (loại sắt phi 10, có gân, chưa qua sử dụng) ra vị trí để xe máy. Nhật đặt 03 bó sắt lên yên xe máy và dùng một chiếc dây chun có sẵn ở xe máy buộc lại. Theo N khai đi xe máy đem những thanh sắt đã trộm cắp được đến cửa hàng T2 ở đường M, phường M, thành phố B gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi. N đặt vấn đề bán những thanh sắt này thì người phụ nữ đồng ý mua với giá 7.000 đồng/kg. Sau khi cân sắt được 52 kg thì người phụ nữ này trả cho N số tiền 365.000 đồng. Sau đó N đi xe máy về nhà và chi tiêu hết số tiền trên. Kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐG ngày 31/7/2024 của Hội đông định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “03 bó sắt có khoảng 17 đoạn sắt, có khối lượng 52 kg, loại sắt phi 10, có gân, mới chưa qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 31/5/2024 là 416.000 đồng”
Vụ thứ hai: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, Thân Đức N tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98K1-263.00 đi đến khu tập kết vật liệu xây dựng của Công ty cổ phần T1 Phát I. Bằng phương thức như lần trước, N trộm cắp được 04 bó sắt gồm nhiều thanh sắt có độ dài khác nhau (loại sắt phi 10, có gân, chưa qua sử dụng). N tiếp tục đem đến cửa hàng thu mua phế liệu hôm trước để bán. Người phụ nữ là chủ cửa hàng và N cùng cân xác định được 63kg sắt. Người phụ nữ trả cho N số tiền 440.000 đồng. Sau đó, N đi xe máy về nhà và đã chi tiêu hết số tiền trên. Kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐG ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tụng hình sự thành phố B kết luận: “04 bó sắt gồm nhiều thanh sắt, số lượng thanh sắt trong các bó không đồng đều có khối lượng 63 kg, loại sắt phi 10, có gân, mới, chưa qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 01/6/2024 là 504.000 đồng”
Vụ thứ ba: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, Thân Đức N điều khiển xe mô tô biển kiển soát 98K1-263.00 đi từ nhà đến công trường đang thi công của Công ty cổ phần T1 Phát I. Nhật đỗ xe tại khu vực bãi đất trống gần trạm y tế xã T rồi đi bộ đến khu tập kết vật liệu. Quan sát thấy không có người trông coi, N vén tấm bạt ra thấy có nhiều bó sắt đã được cắt và bó sẵn. N lấy một bó sắt vác lên vai rồi đi về phía để xe mô tô. Khi N đi được khoảng 30 mét thì bị anh Võ Nguyễn Thanh N2 và anh Nguyễn Đại B đều là nhân viên Công ty cổ phần T1 đang trông coi công trình phát hiện và đuổi theo. Thấy vậy, N vứt bỏ sắt xuống đất rồi bỏ chạy vào đường trong làng về nhà.
Anh Võ Nguyễn Thanh N2 đã báo cho Công an xã T đến để lập biên bản sự việc và tạm giữ tại hiện trường: 01 (một) bó sắt có 20 đoạn sắt, mỗi đoạn dài 1,55 mét, được gia công hai đầu, cân kiểm tra có khối lượng 19 kg, loại sắt phi 10, có gân và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 98K1- 263.00 và 02 đoạn dây chun màu đen.
Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐ ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 bó sắt có 20 đoạn sắt dài 1,55m được gia công hai đầu, có khối lượng 19kh, loại sắt phi 10, có gân, mới, chưa qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 02/6/2024 là 152.000 đồng.”
Ngày 02/6/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Thân Đức N về hành vi trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan điều tra, N khai nhận đã một mình thực hiện 03 vụ trộm cắp sắt tại công trường đang thi công của Công ty cổ phần T1 như nêu trên. Cơ quan điều tra đã cho N quan sát bó sắt gồm 20 thanh sắt đã thu giữ, N xác định đây là số vật chứng mà N trộm cắp tại công trình xây dựng và vứt lại tại hiện trường khi bị phát hiện
Cơ quan điều tra đã cho Nhật thực nghiệm điều tra tại hiện trường về hành vi trộm cắp ngày 02/6/2024. Kết quả Nhật thực hiện các động tác để xe máy tại bãi đất trống rồi đi bộ đến khu tập kết vật liệu trộm cắp bó sắt; khi bị phát hiện thì N vứt bỏ sắt, để xe máy tại hiện trường rồi bỏ chạy, thời gian thực hiện hết 03 phút 30 giây. Nhật cũng thực hiện thuần thục các động tác trộm cắp sắt vào các ngày 31/5/2024 và 01/6/2024 như đã khai
Quá trình điều tra, anh N2 và anh B là nhân viên của Công ty cổ phần T1 Phát I khai vào ngày 31/5/2024 và ngày 01/6/2024 tại khu tập kết vật liệu xây dựng của công trình phát hiện bị mất tổng số 07 bó sắt, loại sắt phi 10 đã được cắt để chuẩn bị thi công công trình.
Căn cứ lời khai và chỉ dẫn của Thân Đức N, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã xác minh, lấy lời khai bà Thân Thị B1 là chủ cửa hàng thu mua phế liệu ở đường M, phường M, thành phố B. Bà B1 khai không nhớ có mua các thanh sắt của N bán hay không. Cơ quan tra không thu hồi được 07 bó sắt trên.
Tại bản Cáo trạng số 182/CT-VKS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thân Đức N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo N trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, dùng nhục hình. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.
- - Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thân Đức N từ 08 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
- * Không ai có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
- * Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi của bị cáo: Căn cứ đơn trình báo của anh Võ Nguyễn Thanh N2, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an xã T lập hồi 09 giờ 20 phút ngày 02/6/2024, bản tự khai/bản tường trình của Thân Đức N, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ vào hồi 09 giờ 50 phút ngày 02/6/2024, Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐ ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên toà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, loại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 31/5/2024 đến 02/6/2024, bị cáo Thân Đức N đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, lén lút đột nhập vào Công ty cổ phần T1 đang thi công xây dựng khu đô thị mới tại thôn T, xã T, thành phố B để trộm cắp tài sản. Bị cáo đã trộm cắp được 134 kg sắt, loại sắt phi 10, có gân, mới và chưa qua sử dụng, tổng giá trị là 1.072.000 đồng. Trước đó, ngày 03/11/2023 Thân Đức N có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và đã bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 333/QĐ-XPHC ngày 09/11/2023. Do vậy hành vi bị cáo thực hiện từ ngày 31/5/2024 đến 02/6/2024 thuộc trường hợp “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi trộm cắp của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh theo điểm, khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong khoảng thời gian liên tục và kế tiếp nhau từ ngày 31/5/2024 đến ngày 02/6/2024 bị cáo N đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ (ông Thân Đức H) tham gia dân quân hoả tuyến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 29/7/2010 bị xét xử về tội “Vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 07/01/2021 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo để vừa có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo là người nghiện ma tuý và không có công ăn việc làm nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự
[12] Về các vấn đề khác có liên quan:
[12.1] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của bị hại đã được Cơ quan Điều tra trả lại 01 bó sắt có 20 đoạn sắt dài 1,55m, có khối lượng 19kg, loại sắt phi 10, có gân do thu hồi được. Đến nay bị hại không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[12.2] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98K1-263.00 và 02 đoạn dây chun buộc ở giá để đồ phía trước yên xe: Kết quả điều tra xác định xe mô tô đăng ký mang tên Thân Thị N1, sinh năm 2003 là con gái của Thân Đức N. Chị N1 cho bị cáo N mượn xe để sử dụng, không biết N sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Điều tra trả lại chiếc xe trên cho chị N1 là có căn cứ.
[13] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thân Đức N 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- Về án phí: Bị cáo Thân Đức N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 188/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
