Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/DS-PT

Ngày: 05-9-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Lạc

Ông Lâm Triệu Hữu

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Nhơn – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2024/DS-ST, ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 238/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm: 1980.
  • Địa chỉ: số G khóm D, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Bà Võ Thị V, sinh năm: 1957.
  • Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị V là ông Nguyễn Tấn Đ - Luật sư Văn phòng L thuộc đoàn luật sư tỉnh V.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Phan Văn T, sinh năm: 1953.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn T là bà Võ Thị V, sinh năm: 1957.

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Bà Võ Thị V - là bị đơn và ông Phan Văn T - là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 05/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị N trình bày:

Chị có tham gia hụi của bà V, chị là hụi viên còn bà V là đầu thảo hụi, gồm các dây hụi:

  • - Dây 1: Hụi mở ngày 04/5(âl)/2022 nhằm ngày 02/6(dl)/2022 mãn hụi ngày 04/02(âl)/2024 nhằm ngày 13/3(d1)/2024, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 23 phần, chị tham gia hai phần. Tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ/lần khui hụi. Chị góp được 14 lần hụi sống × 02 phần = 28 lần với số tiền vốn là 49.000.000₫ × 02 phần = 98.000.000đ, đến lần thứ 15 thì bà V ngưng khui hụi. Dây hụi này chị yêu cầu bà V trả tiền hụi theo loại hụi chết cho chị là 70.000.000₫ × 02 phần = 140.000.000₫.
  • - Dây 2: Hụi mở ngày 12/11(âl)2021 nhằm ngày 15/12(dl)/2021 mãn hụi ngày12/8(âl)/2023 nhằm ngày 26/9(dl)/2023, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 23 phần, chị tham gia một phần. Tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ/lần khui hụi. Chị góp được 19 lần hụi sống với số tiền vốn là 67.250.000đ. Đến lần thứ 20 thì bà V ngưng khui hụi. Dây hụi này chị yêu cầu bà V trả tiền hụi cho chị theo loại hụi chết là 95.000.000đ.
  • - Dây 3: Hụi mở ngày 15/8(âl)2022 nhằm ngày 10/9(d1)/2022 mãn hụi ngày 15/7(âl)/2024 nhằm ngày 18/8(d1)/2024, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 25 phần, chị tham gia một phần. Tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ/lần khui hụi. Chị góp được 10 lần hụi sống với với số tiền vốn là 32.900.000đ, đến lần thứ 11 thì bà V ngưng khui hụi. Dây hụi này chị yêu cầu bà V trả tiền hụi vốn cho chị là 32.900.000đ và tiền lãi theo lãi suất 02%/tháng theo từng lần khui hụi với số tiền lãi là 9.615.000đ, tổng cộng 42.515.000₫.

Tổng cộng 03 dây hụi chị đã góp tiền hụi cho bà V là 277.515.000đ.

Nay chị yêu cầu bà V và ông T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị số tiền nợ hụi là 277.515.000đ.

Tại Bản tường trình ngày 26/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Võ Thị V trình bày:

Bà là đầu thảo hụi còn chị N là hụi viên, cụ thể:

  • - Dây 1: Hụi mở ngày 04/5(âl)/2022 nhằm ngày 02/6(d1)/2022 mãn hụi ngày 04/2(âl)/2024 nhằm ngày 13/3(d1)/2024, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 23 phần, chị N tham gia hai phần. Tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ/lần khui hụi. Chị N góp được 14 lần hụi sống × 02 phần = 28 lần với số tiền vốn là 49.000.000₫ × 02 phần = 98.000.000đ, đến lần thứ 15 thì bà ngưng khui hụi. Dây hụi này chị N yêu cầu bà trả tiền hụi là 140.000.000₫ thì bà không đồng ý mà bà chỉ đồng ý trả tiền hụi vốn là 98.000.000đ và tiền lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày bà tuyên bố ngưng hụi cho đến ngày xét xử.
  • - Dây 2: Hụi mở ngày 12/11(âl)/2021 nhằm ngày 15/12(d1)/2021 mãn hụi ngày 12/8(âl)/2023 nhằm ngày 26/9(d1)/2023, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 23 phần, chị N tham gia một phần. Tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ/lần khui hụi. Chị N góp được 19 lần hụi sống với số tiền vốn là 67.250.000đ. Đến lần thứ 20 thì bà ngưng khui hụi. Dây hụi này chị N yêu cầu bà trả tiền hụi là 95.000.000đ thì bà không đồng ý mà bà chỉ đồng ý trả tiền hụi vốn là 67.250.000đ và tiền lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày bà tuyên bố ngưng hụi cho đến ngày xét xử.
  • - Dây 3: Hụi mở ngày 15/8(âl)/2022 nhằm ngày 10/9(d1)/2022 mãn hụi ngày 15/7(âl)/2024 nhằm ngày 18/8(d1)/2024, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 25 phần, chị N tham gia một phần. Tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ/lần khui hụi. Chị N góp được 10 lần hụi sống với số tiền vốn là 32.900.000đ, đến lần thứ 11 thì bà ngưng khui hụi. Dây hụi này chị N yêu cầu bà trả tiền hụi là 42.515.000đ thì bà không đồng ý mà bà chỉ đồng ý trả tiền hụi vốn là 32.900.000đ và tiền lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày bà tuyên bố ngưng hụi cho đến ngày xét xử.

Nay chị N yêu cầu bà và ông T phải liên đới trả cho chị N số tiền nợ hụi là 277.515.000đ thì bà không đồng ý mà bà chỉ đồng ý trả tiền hụi vốn cho chị N là 198.150.000đ và tiền lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày bà tuyên bố ngưng hụi cho đến ngày xét xử đồng thời bà chỉ đồng ý một mình cá nhân bà trả tiền hụi cho chị N bà không đồng ý ông T cùng liên đới trả tiền hụi cùng với bà vì việc bà làm đầu thảo hụi thì ông T không biết.

Tại Bản khai ý kiến ngày 07/3/2024 người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T là bà Võ Thị V trình bày: Ông T là chồng của bà V. Việc bà V tham gia làm đầu thảo hụi thì ông T hoàn toàn không biết nên nay ông T không đồng ý liên đới trả tiền hụi cùng với bà V.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị N. Buộc bà Võ Thị V và ông Phan Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho chị Đặng Thị N số tiền hụi tổng cộng vốn và lãi là 242.952.000đ (Hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ trã lãi do chậm thi hành án, về án phí sơ thẩm và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/6/2024 bà Võ Thị V và ông Phan Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không buộc ông Phan Văn T liên đới trả tiền nợ hụi cho bà N.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Võ Thị V và ông Phan Văn T có bà Võ Thị V làm đại diện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Chị Đặng Thị N không đồng ý với kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T, chị N yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị V phát biểu ý kiến: Qua các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy việc tổ chức làm chủ hụi của bà Võ Thị V ông Phan Văn T hoàn toàn không hay biết. Bà V làm chủ hụi có tiền để phục vụ cho việc tham gia góp hụi chứ bà V không sử dụng tiền hụi có được để phục vụ cho sinh hoạt gia đình. Do đó, bà Võ Thị V và ông Phan Văn T kháng cáo yêu cầu không buộc ông Phan Văn T liên đới cùng bà V trả nợ hụi cho bà Đặng Thị N là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T, sửa bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T là chưa đủ căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Võ Thị V và ông Phan Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà V và ông T là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T nộp trong hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị Đặng Thị N và bà Võ Thị V thống nhất: Chị N có tham gia các dây hụi do bà V làm đầu thảo, loại hụi 5.000.000đ, một tháng khui một lần. Cụ thể như sau:

  • - Dây 1: Hụi mở ngày 04/5/2022 (âl) nhằm ngày 02/6/2022 (dl), có 23 phần, chị N tham gia 02 phần. Chị N góp được 14 lần hụi sống với số tiền 49.000.000đ/phần x 02 phần = 98.000.000đ, đến lần thứ 15 thì bà V ngưng khui hụi.
  • - Dây 2: Hụi mở ngày 12/11/2021 al nhằm ngày 15/12/2021(dl) có 23 phần, chị N tham gia 01 phần. Chị N góp được 19 lần hụi sống với số tiền 67.250.000đ, đến lần thứ 20 thì bà V ngưng khui hụi.
  • - Dây 3: Hụi mở ngày 15/8/2022 al nhằm ngày 10/9/2022 (dl), có 25 phần, chị N tham gia 01 phần. Chị N góp được 10 lần hụi sống với số tiền 32.900.000đ, đến lần thứ 11 thì bà V ngưng khui hụi. Tổng cộng 03 dây hụi trên chị N đóng được 198.150.000₫ vốn. Việc góp hụi này bà V thống nhất.

Xét thấy các dây hụi trên chị N góp hụi hàng tháng đầy đủ, đến tháng 7/2023 thì bà V ngưng khui, nhưng không trả tiền góp hụi cho chị N, do đó chị N khởi kiện yêu cầu bà V trả cho chị N số tiền hụi đã đóng và chịu lãi suất 1,66%/tháng của số tiền đã đóng vào là có căn cứ. Án sơ thẩm buộc bà Võ Thị V và ông Phan Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho chị Đặng Thị N số tiền hụi vốn và tiền lãi tổng cộng 242.952.000đ là có căn cứ. Bà Võ Thị V đồng ý số tiền hụi phải trả nhưng không đồng ý việc ông T liên đới cùng bà V trả tiền hụi cho chị N.

Ông Phan Văn T trình bày ông hoàn toàn không biết việc bà V làm đầu thảo hụi là không có căn cứ, bởi vì bà V làm đầu thảo hụi trong thời gian dài và mở rất nhiều dây hụi khác nhau. Bà V và ông T không có chứng cứ chứng minh bà V sử dụng tiền hụi vào việc riêng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà V xác định số tiền kiếm được từ việc tham gia làm chủ hụi bà V dùng vào việc chi tiêu cho gia đình và phục vụ cho việc chơi hụi. Hiện nay bà V và ông T là vợ chồng hợp pháp, khoản tiền nợ hụi này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới trả nợ theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, án sơ thẩm xử buộc bà Võ Thị V và ông Phan Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền hụi cho chị Đặng Thị N là có căn cứ.

Từ nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.

[4] Xét đề nghị của vị luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Võ Thị V là chưa đủ căn cứ.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà Võ Thị V và ông Phan Văn T phải chịu án phí phúc thẩm. Do bà V và ông T là người cao tuổi, nên được miễn tiền án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Võ Thị V và ông Phan Văn T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm;

Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 21, Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị N.

  1. Buộc bà Võ Thị V và ông Phan Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả chị Đặng Thị N số tiền hụi tổng cộng vốn và lãi là 242.952.000đ (Hai trăm bốn mươi hai triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho bà Võ Thị V và ông Phan Văn T do là người cao tuổi.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TAND Cấp cao: 01;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;
  • - Phòng KTNV&THA: 01;
  • - TAND huyện Vũng Liêm: 01;
  • - THADS huyện Vũng Liêm: 01;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: 06;

Đặng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/DS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 188/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà N1 tranh chấp về hụi với bà V1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger