|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 188/2024/HS-ST Ngày 19/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thuý Mai
2. Bà Trần Kim Liên
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Mạnh - Kiểm sát viên
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 171/2024/TLHS-ST, ngày 25/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn T; sinh ngày 05 tháng 01 năm 1998 tại Thái Nguyên.
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Xóm M, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không. Con ông: Dương Văn M (đã chết). Con bà: Dương Thị T1, sinh năm 1970. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại Quyết định số 0092618/QĐ-XPHC ngày 07/12/2017, Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã nộp phạt ngày 07/12/2017.
- + Tại Quyết định số 34/2020/QĐ-TA ngày 23/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng. Chấp hành xong ngày 10/9/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).
Người chứng kiến: Ông Đoàn Văn P, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/4/2024, Tổ công tác Công an phường H, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ E, phường H, thành phố T thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là Dương Văn T, đồng thời T tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên trái T đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (niêm phong ký hiệu A2). T khai là ma túy Heroine T2 mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Văn T, niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác không phát hiện và thu giữ gì.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2 có khối lượng 0,346 gam (niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định).
Tại Kết luận giám định số 524/KL-KTHS, ngày 18/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,346 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 10/4/2024, T đi xe bus từ nhà ở xóm M, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực đường T thuộc phường H, thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua 01 gói ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng. Mua xong, T cất gói ma túy ở trong túi áo khoác bên trái T đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường H, T, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên.
Vật chứng của vụ án:
02 (hai) bì niêm phong ký hiệu A3, A4. Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Tại Cáo trạng số 175/CT-VKSTPTN, ngày 19/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 bì niêm phong ký hiệu A3, A4.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng hưởng mức án thấp nhất và để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Dương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 10/4/2024, tại tổ E, phường H, thành phố T, Dương Văn T có hành vi tàng trữ 0,346 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường H, T bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật được quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
[3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, làm suy hao kinh tế và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Công an huyện P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, Toà án nhân dân huyện Phú Bình áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, tuy nhiên bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện ma tuý nên đã lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bị cáo không có mục đích mua bán nhằm kiếm lời, tại phiên toà bị cáo khai không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[7]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A3, A4.
[8]. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Dương Văn T khai mua của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực đường T thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Dương Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/4/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A3, A4.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 175/QĐ-VKSTPTN ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Dương Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)
- Số bản án: 188/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
