Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Văn Đức

Ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐ-ST ngày 20/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang làm việc tại Ma Cao, Trung Quốc).

    Chị H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993; Địa chỉ: số A, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2023, không triệu tập).

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 1986 (vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Bà Lê Thị L, sinh năm 1957 (vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai (có xác nhận của Tổng Lãnh sự quán nước C tại Hồ N và Ma Cao ngày 12/10/2023) nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh M đăng ký kết hôn ngày 21/6/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến M.

Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung là cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 01/10/2008 và cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 13/3/2011. Hiện nay cháu K, cháu D đang sinh sống cùng bà ngoại (bà L mẹ chị). Sau khi ly hôn chị đề nghị giao các con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu K, cháu D cho bà Lê Thị L là mẹ chị chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Không có tài sản chung nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị H trình bày: Do chị không có mặt ở Bắc Giang nên chị không thể đến Tòa án làm việc được, vì vậy chị đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra. Chị ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993; địa chỉ: số A, đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương thay mặt chị giao nộp các tài liệu, văn bản chứng cứ, nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Anh Nguyễn Tiến M là bị đơn đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh M không đến Tòa án làm việc cũng nhưng không cung cấp ý kiến đến Tòa án.

Tại biên bản làm việc ngày 13/12/2023 và ngày 23/01/2024 bà Nguyễn Thị D1 (mẹ anh M) cung cấp: Anh M, chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau kết hôn chị H về nhà anh M làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên sau một thời gian kết hôn chị H đi lao động tại Ma Cao, Trung Quốc. Khoảng 3 năm đến 4 năm nay, chị H không gọi điện về hỏi thăm gia đình. Hai bên gia đình biết chuyện có khuyên bảo nhưng không được.

Anh M hiện đang sinh sống cùng bà, bà đã giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh M, anh M cho biết anh M đồng ý ly hôn với chị H, đồng ý giao con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng do công việc bận, làm về muộn nên

2

không bố trí thời gian đến Tòa án làm việc được. Anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Anh M, chị H có 02 con chung là cháu K và D. Các cháu hiện đang sinh sống cùng bà ngoại là bà Lê Thị L.

Bà Lê Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Về hôn nhân: Anh M, chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau kết hôn chị H về nhà anh M làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2014 chị H đi lao động tại Ma Cao, Trung Quốc. Sau khi sang vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng mấy năm gần đây anh, chị phát sinh mâu thuẫn nên anh, chị không liên lạc với nhau nữa. Vừa qua chị H có về thăm gia đình nhưng không về sinh sống với anh M mà sinh sống cùng bà.

Về con chung: Anh M, chị H có 02 con chung là cháu K, cháu D. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng bà. Bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, cháu D cho chị H trong thời gian chị H đi lao động tại nước ngoài. Bà xác định việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, D thời gian vừa qua cũng như tới đây là quyền, nghĩa vụ của bà đối với con cháu nên bà không yêu cầu anh M, chị H phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu.

Cháu Nguyễn Tiến K, cháu Nguyễn Tiến D trình bày: Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng mẹ, bà ngoại. Bố có thời gian chung sống cùng hai cháu nhưng từ khi bố mẹ mâu thuẫn thì bố chuyển đi nơi khác sinh sống và ít quan tâm đến hai cháu. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn được ở với mẹ và bà ngoại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H, bà Lê Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Tiến M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị H; Biên bản làm việc với bà L, biên bản làm việc với mẹ anh M và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Tiến M được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không chấp hành quy định của pháp luật. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

3

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tiến M.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tiến K, Nguyễn Tiến D cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng tạm giao cháu K, cháu D cho bà Lê Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Do chị H yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Tiến M và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn hiện đang lao động tại Ma Cao, Trung Quốc. Anh Nguyễn Tiến M là bị đơn hiện có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về việc vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bà Lê Thị L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H, bà Lê Thị L.

Đối với bị đơn: Anh Nguyễn Tiến M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Tiến M.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tiến M kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 21/6/2006 tại Ủy

4

ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh M phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Tiến M.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh M, chị H chung sống với nhau hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn năm 2014 chị H đi lao động tại nước ngoài. Sau khi đi lao động một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Chị H xác định vợ chồng đã ly thân nhau thời gian dài không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M. Anh M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án làm việc và cũng không đến phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh M đã từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của mình trong vụ án. Ngoài ra, Tòa án cũng xác minh tình trạng hôn nhân của anh M, chị H thông qua gia đình thì được bà D1 là mẹ anh M cung cấp anh M, chị H có mâu thuẫn từ lâu, hiện nay không còn liên lạc với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xác định vợ chồng anh M, chị H đã có thời gian dài không quan tâm, liên lạc với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh M là phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Chị H, anh M có 02 con chung là cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 01/10/2008 và cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 13/3/2011. Hiện nay các con chung đang sinh sống cùng bà L (mẹ chị H). Ly hôn, chị H đề nghị giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng tạm giao các con chung của chị và anh M là cháu K, cháu D cho bà Lê Thị L là mẹ chị chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị về nước sinh sống. Cháu K, cháu D có nguyện vọng được ở cùng chị H và bà ngoại là bà L. Bà L đồng ý nuôi cháu K, cháu D trong thời gian chị H ở nước ngoài.

Xét yêu cầu của chị H về việc giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: Từ khi chị H đi lao động nước ngoài các con chung vẫn chung sống ổn định cùng bà L. Các cháu phát triển ổn định về cả vật chất lẫn tinh thần. Cháu K, cháu D trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Bà L đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu cho chị H cho đến khi chị H về nước sinh sống. Anh M mặc dù ở ở Việt Nam nhưng ít quan tâm chăm sóc đến con chung nên để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống và việc học tập của các cháu, đảm bảo sự phát triển tốt nhất của các con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao cháu K, cháu D cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác, nhưng tạm giao cho Lê Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị H về Việt Nam

5

là có căn cứ theo quy định tại Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp điều kiện thực tế và đảm bảo quyền vào lợi ích mọi mặt của con chung cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn anh Nguyễn Tiến M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

Trường hợp anh Nguyễn Tiến M có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Tiến M, bà Lê Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

6

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tiến M.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 01/10/2008 và cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 13/3/2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu K, cháu D cho bà Lê Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống.

    Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Tiến M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000836 ngày 13/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

    Anh Nguyễn Tiến M, bà Lê Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 188/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị H và anh M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger