|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2024/HSST
Ngày: 18 tháng 10 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh
2. Bà Ngô Bích Liên
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Phương - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 182/2024/TL - HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Đặng Trần K, Sinh năm: 1984; ĐKTT: Số D S, phường.Điện Biên, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P - A5 Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Đặng Trần L (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L1;
Tiền án, tiền sự: - Bản án số 28 ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài hình phạt chính, bị án bị truy nộp 1.000.000 đồng, nộp 200.000 đồng án phí HSST. Bị án kháng cáo. Ngày 01/06/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Xác minh tại Chi cục THADS quận B, bị án chưa nộp án phí và khoản truy nộp 1.000.000 đồng. Ra trại ngày 22/10/2020; Bản án số 168 ngày 16/08/2022 của Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài hình phạt chính, bị án phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST. Xác minh tại Chi cục THADS quận B, bị án đã nộp án phí HSST và án phí DSST ngày 24/07/2023. Ra trại ngày 16/05/2023.
Nhân thân: 02 tiền án đã xóa án tích; Bản án số 384/HSST ngày 05/08/2008 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài hình phạt chính, bị án còn phải nộp 50.000 đồng án phí HSST. Xác minh tại Chi cục THADS quận B, bị án đã nộp 50.000 đồng án phí HSST ngày 10/05/2007. Ra trại ngày 21/07/2009; Bản án số 95/HSST ngày 05/04/2010 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 32 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngoài hình phạt chính, bị án còn phải chịu phạt 5.000.000 đồng, nộp 200.000 đồng án phí HSST. Xác minh tại Chi cục THADS quận Đ, bị án đã nộp 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng tiền phạt ngày 22/06/2010. Xác minh tại Chi cục THADS quận B, Chi cục đã ra quyết định đình chỉ số 23 ngày 8/5/2017 đối với khoản tiền phạt 4.700.000 đồng. Ra trại ngày 13/09/2012;
Bị cáo bị bắt ngày: 29/5/2024; Có mặt tại phiên tòa;
2. Ninh Văn Đ, Sinh năm: 1989; ĐKNKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyên L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở: Số B ngõ A Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Ninh Văn C; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 29/5/2024; Có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Đức S, Sinh năm: 1986; ĐK NKTT và nơi ở: Số B ngõ D, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Đức L2 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H; H1 và tên vợ: Hà Thị N; Nhân thân: 03 tiền án đã xóa án tích: Bản án số 174 ngày 16/07/2013 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài hình phạt chính, bị án phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. Xác minh tại Chi cục THADS quận B, bị án đã nộp án phí HSST ngày 12/11/2013. Ra trại ngày 12/04/2015; Bản án số 74 ngày 25/05/2018 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài hình phạt chính, bị án phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. Xác minh tại Chi cục THADS quận B, bị án đã nộp án phí HSST ngày 27/09/2018. Ra trại ngày 01/02/2019; Bản án số 35 ngày 15/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài hình phạt chính, bị án phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. Xác minh tại Chi cục THADS huyện T, bị án đã nộp án phí HSST ngày 24/11/2021. Ra trại ngày 30/03/2022; Bị cáo bị bắt ngày 29/5/2024; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ninh Văn Đ mở cửa hàng sửa xe máy tại địa chỉ 21 ngõ A Đ, B, Hà Nội và có nhận Nguyễn Đức S vào làm nhân viên tại cửa hàng. Đ là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy. Sau khi biết S cũng là đối tượng nghiện ma túy, Đ đã thỏa thuận trả công cho S 02 gói ma túy/ngày để S bán ma túy cho Đ, S đồng ý. Đ là người đi mua ma túy về rồi chia nhỏ thành từng gói. Khi có khách đến hỏi mua ma túy, nếu ở nhà thì Đ sẽ đưa gói ma túy để S bán cho khách và nhận tiền bán ma túy từ khách. Nếu Đ không có ở nhà thì S sẽ trực tiếp chia gói ma túy để bán cho khách, đưa tiền bán ma túy cho Đ sau.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/05/2024, Đ đi xe máy một mình đến khu vực ngõ A H, P. L, B, Hà Nội tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, Đ đã mua của đối tượng không quen biết 1.350.000 đồng ma túy loại heroine. Mua xong, Đ mang túi heroine về cửa hàng sửa xe tại địa chỉ 21 ngõ A Đ cất giấu.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/05/2024, đối tượng tên Đ1 sử dụng số điện thoại 0584.509.xxx gọi vào số điện thoại 0973.770.xxx của Đặng Trần K hỏi mua 01 gói heroine của K. K đồng ý và yêu cầu Đ1 đưa cho K 250.000 đồng để mua heroine về bán lại cho Đ1. K gặp Đ1 tại phố V và nhận 250.000 đồng. Sau đó, K gọi điện thoại cho Ninh Văn Đ và Nguyễn Đức S để mua ma túy nhưng Đ và S không nghe máy. K đến cửa hàng sửa xe tại địa chỉ 21 ngõ A Đ thì gặp Đ. K đưa cho Đ 190.000 đồng để mua 01 gói heroine (Ð bán 01 gói heroine với giá 200.000 đồng nhưng K xin lại 10.000 đồng), Đ đồng ý và bảo K đứng ngoài chờ. Đ cầm tiền, đi lên khác xép cửa hàng rồi ném 01 gói heroine xuống đất. S cầm gói heroine để lên trên bàn rồi gọi K vào trong cửa hàng, chỉ chỗ để gói heroine cho K tự lấy. K cất gói heroine vào trong túi đeo chéo màu đen đang đeo trên người rồi quay lại gặp Đ1. Khi K đang đi trong ngõ B Đ thì bị tổ công tác của đội CSĐTTP về ma túy Công an quận B phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Trần K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. K khai nhận đã bán ma túy cho đối tượng Đ1 02 lần. Lần thứ nhất là trưa ngày 28/05/2024 tại khu vực phố V, K bán cho Đ1 01 gói heroine với giá 200.000 đồng. Lần thứ hai là ngày 29/05/2024, K chưa kịp bán ma túy cho Đ1 thì bị bắt. Lời khai của K phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.
Đối với Ninh Văn Đ và Nguyễn Đức S, sau khi biết Đặng Trần K bị bắt, Đ và S đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Ninh Văn Đ và Nguyễn Đức S đã khai nhận hành vi bán ma túy cho Đặng Trần K. Ngoài ra, Đ và S khai nhận nhiều lần bán ma túy cho Đặng Trần K và đối tượng tên Â, sử dụng số điện thoại 0867.073.xxx, tài khoản zalo “Tran Duc An”. Cụ thể:
- - Khoảng 02 tuần trước khi bị bắt, hàng ngày Đ và S đều bán 01 gói heroine cho đối tượng Â, với giá từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Trong đó, lần bán ma túy cho  gần nhất là tối ngày 28/05/2024, Đ không có nhà nên S đã bán cho  01 gói heroine với giá 350.000 đồng.
- - Khoảng 01 tuần trước khi bị bắt, hàng ngày Đ và S đều bán 02 gói heroine cho Đặng Trần K với giá 200.000 đồng. Trong đó, lần bán ma túy cho K gần nhất là tối ngày 28/05/2024, Đ không có nhà nên S đã bán cho K 01 gói heroine với giá 200.000 đồng.
Những lần Đ và S bán ma túy cho  và K đều được diễn ra tại cửa hàng S2 địa chỉ 21 ngõ A Đ, P. N, B, H.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Đặng Trần K:
- + 01 túi đeo chéo màu đen bên trong có: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại Vsmart có số sim 0973770265, 560.000 VNĐ.
- + 01 xe máy nhãn hiệu Wave màu đỏ BKS: 30F5 -7304.
- Thu giữ của Ninh Văn Đ:
- + 01 hộp giấy hình vuông màu vàng bên trong có: 03 túi nilon chứa chất bột màu trắng, 01 cân điện tử màu bạc.
- + 01 điện thoại Iphone 7 màu đen có số sim 0968772235.
- + 690.000 đồng.
- Thu giữ của Nguyễn Đức S:
- + 01 điện thoại Vivo Y21 màu xanh có số sim 0985115787.
Bản kết luận giám định số 4004/KL - KTHS ngày 07/06/2024 của phòng K2 Công an thành phố H kết luận:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng là ma túy loại heroine, khối lượng: 0,183 gam.
Bản kết luận giám định số 4005/KL - KTHS ngày 07/06/2024 của phòng K2 Công an thành phố H kết luận:
- 01 hộp hình vuông bên trong có:
- + Chất bột màu trắng bên trong 03 túi nilon đều là ma túy loại heroine, tổng khối lượng: 1,120 gam.
- + 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại heroine.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Ninh Văn Đ và đối tượng tên  mua ma túy của Ninh Văn Đ, đối tượng tên Đ1 mua ma túy của Đăng Trần K1, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 30F5 - 7304 thu giữ của Đặng Trần K, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Đặng Kim N1 (Sinh năm: 1986; HKTT: 42 S, P.Điện Biên, B, Hà Nội), em gái Đặng Trần K. Việc K mượn xe máy của chị N1 để mua bán ma túy, chị N1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị N1.
Tại bản cáo trạng số: 74/CT-VKS ngày 23/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã Truy tố bị can Đặng Trần K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, điểm q, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị can Ninh Văn Đ và Nguyễn Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Cácbị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo giống như bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 23/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, điểm q khoản 2 điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần K mức án từ 9 năm đến 9 năm 6 tháng
- - Áp dụng khoản 2 điều 251; Điều 38; xử phạt: Bị cáo Ninh Văn Đ mức án từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù; Bị cáo Nguyễn Đức S mức án từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,183 gam là ma túy lọi H2 đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đặng Trần K; 01 hộp giấy vuông màu vàng đã được niêm phong bên trong có 1,120 gam là ma túy loại Heroin và 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Ninh Văn Đ; 01 túi đeo chéo màu đen cũ.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy màu xanh đã cũ, IMEI: 356743100548754 gắn sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong và 560.000 đồng (thu giữ của Đặng Trần K); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã cũ, IMEI:359209077481756 gắn 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong và 690.000 đồng (thu giữ của Ninh Văn Đ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu xanh đã cũ, IMEI: 86142805349386 gắn 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong (thu giữ của Nguyễn Đức S).
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, các bị cáo không có tranh luận gì; Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng K2 công an thành phố H cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 15/05/2024 đến ngày 29/05/2024, tại nhà số B ngõ A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, Ninh Văn Đ và Nguyễn Đức S đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy heroine cho các đối tượng khác nhau, trong đó đã bán cho đối tượng  sử dụng số điện thoại 0867.073.xxx và ngày 28,29/05/2024 đã bán ma túy heroine cho Đặng Trần K. Ngày 28,29/05/2024, Đặng Trần K đã 02 lần bán trái phép chất ma túy heroine cho đối tượng Đ1. Khoảng 11 giờ ngày 29/05/2024, tại khu vực ngõ B Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, Đặng Trần K đang chuẩn bán 01 gói heroine cho Đ1 thì bị Công an quận B bắt quả tang cùng vật chứng; Xét, hành vi của các bị cáo Đặng Trần K, bị cáo Ninh Văn Đ, bị cáo Nguyễn Đức S đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt của Ninh Văn Đ, Nguyễn Đức S được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đặng Trần K có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần này bị cáo phạm tội, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3]. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đặng Trần K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b, điểm q, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Ninh Văn Đ và Nguyễn Đức S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà N2 về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Do ham hưởng lợi bất chính để kiếm lời để kiếm mua ma túy sử dụng nên các bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh. Xét, hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án để có cơ sở hóa hình phạt, trong vụ án bị cáo Ninh Văn Đ là người mua ma túy về đem ra chia nhỏ thành các gói rồi đưa cho bị cáo Đặng Trần K, bị cáo Nguyễn Đức S bán cho các đối tượng nghiện, còn bị cáo Đặng Trần K và Nguyễn Đức S lấy ma túy từ chỗ Đ để bán cho các đối tượng nghiện, sau đó tiền bán được đưa cho Đ để Đ cho hưởng lợi sử dụng ma túy và một ít tiền trong đó.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Trần K có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên trong vụ án lần này bị cáo phạm tội, tội danh và hình phạt đã áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài ra nhân thân bị cáo K có 02 tiền án đã được xóa án tích. Bị cáo Nguyễn Đức S có nhân thân xấu có 03 tiền án đã được xóa án tích.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét, trong vụ án bị cáo Đặng Trần K, bị cáo Ninh Văn Đ phải chịu mức hình phạt ngang nhau và cao hơn bị cáo Nguyễn Đưc S1 và áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,183 gam là ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đặng Trần K; 01 hộp giấy vuông màu vàng đã được niêm phong bên trong có 1,120 gam là ma túy loại Heroin và 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Ninh Văn Đ;
- - 01 túi đeo chéo màu đen cũ thu giữ của Đặng Trần K không còn giá trị sử dụng nên cho tịch thu tiêu hủy .
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy màu xanh đã cũ, IMEI: 356743100548754 gắn sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong và số tiền 560.000 đồng thu giữ của Đặng Trần K liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã cũ, IMEI:359209077481756 gắn 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong và số tiền 690.000 đồng thu giữ của Ninh Văn Đ liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu xanh đã cũ, IMEI: 86142805349386 gắn 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Nguyễn Đức S, liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 251; điểm b, q khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với Đặng Trần K); Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với Ninh Văn Đ, Nguyễn Đức S); Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- - Xử phạt: Đặng Trần K 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024
- - Xử phạt: Bị cáo Ninh Văn Đ 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024
- - Xử phạt: Nguyễn Đức S 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,183 gam là ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đặng Trần K; 01 hộp giấy vuông màu vàng đã được niêm phong bên trong có 1,120 gam là ma túy loại Heroin và 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Ninh Văn Đ; 01 túi đeo chéo màu đen cũ; vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba, thành phố hà N theo biên bản bàn giao vật chứng số 09 ngày 17/10/2024.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy màu xanh đã cũ, IMEI: 356743100548754 gắn sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong (thu giữ của Đặng Trần K); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen đã cũ, IMEI:359209077481756 gắn 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong (thu giữ của Ninh Văn Đ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu xanh đã cũ, IMEI: 86142805349386 gắn 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong (thu giữ của Nguyễn Đức S); Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 09 ngày 17/10/2024: Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 09 ngày 17/10/2024.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.250.000 đồng; Theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 17/10/2024.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Cẩm Hà |
Bản án số 188/2024/HSST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 188/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
