Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/DS-PT

Ngày: 17/4/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.

- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng

Bà Lê Thị Trúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.

Ngày 17/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 360/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 126/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị K, sinh năm: 1952.

Địa chỉ: Số C, Tổ A, Ấp C, xã M, TP ., tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị K là chị Bùi Thị T, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị K: Luật sư Phạm Hoàng Đ – Công ty L1 Luật sư - Chi nhánh Đ3.

- Bị đơn: Lê Thị Q, sinh năm: 1960.

Địa chỉ: Số C, Tổ A, Ấp C, xã M, TP ., tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Q là anh Dương Minh T1, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Số G, đường C, Tổ F, Ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bùi Quốc K1, sinh năm: 1980.
  2. Phạm Thị Mộng T2, sinh năm: 1982.
  3. Bùi Quốc H, sinh năm: 2002.

Cùng địa chỉ: Số C, Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Mộng T2 là chị Bùi Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Phan Văn T3, sinh năm: 1960.
  2. Phan Văn H1, sinh năm: 1982.
  3. Phan Thanh Đ1, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Số C, Tổ A, Ấp C, xã M, TP ., tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Phan Thanh Đ1 là anh Dương Minh T1, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Số G, đường C, Tổ F, Ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Phan Thị Hòa T4, sinh năm: 1986.

Địa chỉ hiện nay: Số H, Cư Xá T, Phường A, Quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh.

  1. Ủy ban nhân dân thành phố C.

Địa chỉ: Đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị K là nguyên đơn của vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị K trình bày:

Năm 1976 mẹ bà K là bà Nguyễn Thị D (chết năm 2018) có cho bà phần diện tích đất có tứ cận: một cạnh giáp đường đất (hiện nay là đường M); Một cạnh giáp ranh với đất bà D và hiện nay là Lê Thị Q được cấp quyền sử dụng đất (hiện trạng ranh là máy nhà hiện nay); Một cạnh giáp đất ông Lê Văn C; Một cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị Cà . Không xác định được diện tích cụ thể chiều ngang, chiều dài. Sau khi bà D cho đất thì bà K cất nhà lớn, có máy che phía sau và trồng một số cây ăn trái. Khi cho đất không có giấy tờ, chỉ nói miệng và chị em trong gia đình biết.

Hộ bà K sử dụng đến năm 2015 mới được cấp đất lần đầu tại thửa số 13, cấp cho hộ ông Bùi Văn H2. Đất tọa lạc tại đường M, Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp với diện tích là 150,5m², thửa 13, tờ bản đồ số 29, còn lại phần đất phía sau diện tích 137m², thuộc thửa số 4 và một phần thửa số 5, cùng tờ bản đồ số 29 thì gia đình bà K trực tiếp sử dụng xây dựng nhà bếp (kết cấu khung gỗ tạp, mái tole); nhà vệ sinh (kết cấu khung bê tông, cốt thép, vách tường, mái tole); một mái che bằng tole gỗ tạp; nhà mồ (gồm 3 ngôi mộ của cha, mẹ và em ruột bà K là Lê Văn D1) và trồng các cây ăn trái như mít, xoài, cây lức,... bà K nghĩ Nhà nước đã cấp giấy luôn phần diện tích 137m² phía sau hậu vì đất này do gia đình bà K đang trực tiếp quản lý, sử dụng từ năm 1976 đến nay.

Tháng 7/2020, khi mở rộng đường Mai Văn K2 và cơ quan có thẩm quyền yêu cầu bà K photo giấy đất để kèm vào hồ sơ bồi thường thì bà K mới phát hiện chỉ được cấp giấy phần đất giáp đường diện tích 150,5m², phần đất diện tích 137m² phía sau hậu chưa được cấp giấy. Vì vậy, bà K đã thực hiện thủ tục đo đạc, xin cấp thêm diện tích đất sau hậu.

Tuy nhiên, khi tiến hành đo đạc thì cán bộ địa chính xã cho biết phần đất diện tích 137m² bà K đang sử dụng đã được cấp quyền sử dụng đất cho hộ bà Lê Thị Q.

Nay bà K yêu cầu như sau:

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 137m² (Đo đạc thực tế 117.8m², tại các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 15, D về mốc 6) thuộc thửa số 4 và một phần thửa số 5, cùng tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C do hộ bà Lê Thị Q đứng tên.

- Công nhận cho hộ bà K gồm: Lê Thị K; Bùi Quốc K1; Phạm Thị Mộng T2; Bùi Quốc H được tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 117,8m², thuộc thửa số 4 và một phần thửa số 5, cùng tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Yêu cầu hộ bà Lê Thị Q tách quyền sử dụng đất cho hộ bà kén gồm: Lê Thị K; Bùi Quốc K1; Phạm Thị Mộng T2; Bùi Quốc H được tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 117,8m², thuộc thửa số 4 và một phần thửa số 5, cùng tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại Tổ A, Ấp C, xã M, TP ..

- Đối với vật kiến trúc, cây trồng trên đất tranh chấp gồm: nhà bếp, nhà vệ sinh, mái che, nhà mồ, cây mít, xoài, lức... thì bà K yêu cầu được sử dụng.Đối với yêu cầu của hộ bà Q về việc yêu cầu hộ bà K di dời tài sản trên thửa đất số 4 và

một phần thửa số 5 thì không đồng ý theo yêu cầu của hộ bà Q.

- Thống nhất theo xác định ranh của hộ bà Q tại mốc 13, D, C, 16, không tranh chấp phần này.

- Thống nhất vị trí mốc, diện tích theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C; Thống nhất theo giá đất, tài sản trên đất do Hội đồng thẩm định giá đã định.

Tại phiên tòa bà Lê Thị K xác định không tranh chấp chia thừa kế của bà D, xác định tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Lê Thị Q.

Ngoài ra, bà K xin rút lại phần diện tích 2,9m² tại các mốc 15, D, 17, 16 về mốc 15 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 02/6/2021.

Bà K yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Lê Thị Q có phần diện tích 114,9m², thuộc một phần thửa 04 và một phần thửa số 5, tại vị trí các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, D về mốc 6 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 02/6/2021.

Bà K yêu cầu cấp phần diện tích đất này cho hộ bà K gồm K, K1, T2, H được đứng tên phần đất trên, toàn bộ cây trồng và nhà bếp, mái che, nhà vệ sinh trên phần đất tranh chấp của hộ bà K nên yêu cầu được tiếp tục sử dụng, phần khu mộ giữ nguyên hiện trạng.

* Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Q là anh Dương Minh T1 trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị D (chết năm 2018) cho bà Q năm 1982, diện tích 804m² (cho nói miệng, không có giấy tờ) thời điểm này bà D còn sử dụng đất. Đến năm 1999 bà Q đi đăng ký lần đầu và được cấp cho hộ bà Lê Thị Q thửa 1134, diện tích 196m² và thửa 1137, diện tích 608m². Đến năm 2003, bà Q đổi giấy từ 02 thửa trên thành 04 thửa mới gồm thửa 03, thửa 04, thửa 05 và thửa 12 (thửa 12 phần đất cặp sông đã sang tên cho bà L, bà T5 năm 2008). Đến năm 2019 tiếp tục đổi giấy đến nay.

Năm 1989 nhà ông H2, bà K bị hư và cất lại nhà; Năm 1994 ông H2, bà K có cất thêm nhà kho nhưng nằm trong phần đất bà K được bà D cho tức là trong diện tích đất thửa số 13. Năm 2011, ông H2 và bà K sửa lại nhà kho thành nhà kiên cố, cột bê tông, nền lót gạch tàu, tường cao khoảng 1,2m.

Năm 2012 - 2013, bà K cất thêm nhà bếp phía sau nằm trong phần đất tranh chấp (đất bà Q được bà D cho), lúc đó bà D còn sống không cho nhưng bà K vẫn cất và có nói khi nào cần thì di dời để trả lại đất. Bà D có nói với bà Q là để cho bà K tạm sử dụng, khi nào bà Q cần sử dụng thì bà Q kêu bà K di dời để

trả cho bà Q. Do đó, bà Q mới đồng ý cho bà K tạm sử dụng nhà bếp, mái che. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thì bà K lại sử dụng nhà vệ sinh gây ảnh hưởng đến phần khu mộ.

Trong quá trình hộ bà Q được cấp đất đến năm 2003 thì bà D và gia đình bà K, ông H2 đều biết. Ông H2 là người ký xác định ranh mốc giới với bà Q.

Lý do bà D không cho bà K phần đất phía sau là vì phần mộ của ông Lê Văn T6 (chồng bà D), mộ ông Lê Văn D1 (con bà D) và có phần kiêm tỉnh của bà D cặp với phần nhà bà K nên bà D không cho khu đất phía sau vì đó là khu mộ và mồ mã. Đến khoảng năm 2013-2014 bà D kêu di dời ra phía sau, do gia đình bà K sử dụng nước sinh hoạt gây ảnh hưởng đến phần mộ.

Đối với yêu cầu của bà K thì hộ bà Q không đồng ý, yêu cầu hộ bà K di dời toàn bộ tài sản có trên phần đất đang tranh chấp để trả lại phần đất cho hộ bà Q. Giấy đất hiện do bà Q đang giữ, không có thế chấp.

Thống nhất vị trí mốc, diện tích theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C; Thống nhất theo giá đất, tài sản trên đất do Hội đồng thẩm định giá đã định.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bà Q vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và ý kiến của bà Q không thay đổi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị T là đại diện theo ủy quyền của chị T2 thống nhất lời trình bày của bà K. Không bổ sung thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh K1 thống nhất lời trình bày của bà K. Không bổ sung thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh T1 là đại diện theo ủy quyền của anh Đ1 thống nhất lời trình bày của bà Q. Không bổ sung thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông T3 thống nhất lời trình bày của bà Q. Không bổ sung thêm.

Ý kiến đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp của bà D là mẹ của bà K, bà Q. Năm 1976 bà D đã cho bà K phần đất, mặc dù cho không có giấy tờ nhưng bà K đã sử dụng ổn định từ năm 1976 đến nay.

Việc bà Q đi kê khai đăng ký thì bà K không biết, bà K cùng bà L, bà T5 là con bà D xác định phần đất bà D cho bà Q là từ lộ giáp hậu là đất ông C.

Hồ sơ cấp đất cho hộ bà Q có chữ ký giáp ranh của ông H2, bà C1 là không đúng. Tuy nhiên, do phía bà Q không yêu cầu trưng cầu giám định nên bà

K cũng không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết.

Bà K yêu cầu hủy phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Q, công nhận cho hộ bà K được đứng tên diện tích 114,9m², thuộc một phần thửa 04 và một phần thửa số 5, tại vị trí các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, D về mốc 6 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 02/6/2021.

Bà K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích đất 2,9m², tại các mốc 15, D, 17, 16 về mốc 15 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 02/6/2021.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tuyên:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K đối với hộ bà Lê Thị Q, về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Lê Thị Q cụ thể diện tích đất 114,9m², thuộc một phần thửa số 04, một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 29, tại các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, D về mốc 6.

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K tại vị trí các mốc 15, D, 17, 16 về mốc 15, có diện tích 2,9m².

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Lê Thị Q đối với hộ bà Lê Thị K.

Buộc hộ bà Lê Thị K di dời toàn bộ tài sản trên phần đất có diện tích 114,9m², thuộc một phần thửa số 04, một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 29, tại các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, D về mốc 6, đất tọa lạc tại Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để giao phần đất cho hộ bà Lê Thị Q.

Đất có tứ cận như sau:

+ Một cạnh giáp đất của bà Lê Thị K, ông Bùi Văn H2 thuộc thửa số 13.

+ Một cạnh giáp đất ông Lê Văn T7.

+ Một cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị Cà .

+ Một cạnh giáp đất hộ bà Lê Thị Q.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 02/6/2021 và Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ngày 02/6/2021).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị K được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định của pháp luật.

Bà Lê Thị Q được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012010 ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Do anh Phan Thanh Đ1 nộp thay).

- Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí đo đạc; Xem xét thẩm định tại chỗ; Định giá tài sản tranh chấp là 4.263.000 đồng do bà Lê Thị K phải chịu, bà Lê Thị K đã tạm ứng và chi xong.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2023, bà Lê Thị K có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, hủy một phần giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích 114,9m² đã cấp cho bà quyên; bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

+ Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị K vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của bà Lê Thị K là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà K.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bà Lê Thị K, Hội đồng xét xử xét thấy:

N, bị đơn đều trình bày thống nhất phần đất tranh chấp là của bà Nguyễn Thị D (chết năm 2018) là mẹ của nguyên, bị đơn. Bà D có chồng tên Lê Văn T6 (đã chết) và các con gồm Kén, T5, L, C2, Q, Lê Văn V (chết còn nhỏ) và người con riêng tên Phan Thị S (Xếch).

Bà K cho rằng phần đất tranh chấp khi được cấp cho hộ bà Q lần đầu năm 1999, cấp đổi năm 2003 bà đều không hay biết, đến khoảng năm 2020 khi Nhà nước mở rộng đường M thì bà mới biết hộ bà Q được cấp đất, bao gồm luôn phần đất bà K được bà D cho năm 1976, phần đất này hộ bà K sử dụng làm nhà bếp, nhà vệ sinh và trồng một số cây trồng trên đất khi được bà D cho đất, trong khi gia đình bà sử dụng đất ổn định đến năm 2015 chồng bà là ông Bùi Văn H2 đi đăng ký phần đất từ đường M đến giáp đất ông C nhưng khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H2, bà K chỉ được cấp diện tích đất 150,5m², việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích bị thiếu so với diện tích đăng ký thì gia đình bà K không biết, đến năm 2020 thì mới phát hiện và có tranh chấp đến nay.

Xét thấy, khi bà D còn sống thì bà D ở chung nhà cùng vợ chồng bà Q. Phần mộ của ông Lê Văn T6 (chồng bà D) có ngay vị trí phía sau nhà lớn của bà K trước khi bà D cho đất bà K, bên cạnh có phần mộ của người con trai của bà D tên Lê Văn D1 (chết còn nhỏ) và một kiêm tỉnh của bà D. Hiện nay theo sơ đồ đo đạc là ngay vị trí chỗ mái che tạm của bà K. Sau khi bà D cho đất bà K phần đất trước khu mộ, tức là phần đất hiện thuộc thửa số 13 được cấp cho hộ ông H2, bà K đứng tên thì trong quá trình ở và sử dụng nước sinh hoạt hàng ngày của gia đình bà K đã ảnh hưởng đến khu mộ của ông T6 nên bà D mới di dời khu mộ ra phía sau cho sạch sẽ. Thời điểm di dời khu mộ thì bà D vẫn biết đất do bà Q đứng tên nhưng bà D không phản đối.

Ngoài ra, bà K cho rằng không biết hộ bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng, bởi theo hồ sơ xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông H2 đi đăng ký kê khai đất vào năm 2015 có ghi rõ, nguồn gốc đất của mẹ vợ là bà D cho năm 1978, diện tích đất ông H2 đăng ký 117,1m² đất ONT và 33,4m² đất lâu năm. Tổng diện tích đất đăng ký là 150,5m². Ngày 30/9/2015 ông H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Văn H3, Lê Thị K, diện tích 150,5m², thửa 13, tờ bản đồ số 29; đất có tứ cận giáp Đường M, giáp thửa số 4 của bà Lê Thị Q, giáp đường Bà H4, giáp thửa 521. Đến ngày 05/10/2015 ông H3 có đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, lý do ghi sai hồ sơ, đơn đề nghị điều chỉnh từ Nguyễn Văn H3 thành Bùi Văn H2. Như vậy, bà K cho rằng việc cấp quyền sử dụng đất cho bà và ông H2 không đúng diện tích đăng ký và khi chồng bà nhận giấy đất thì không xem nên không phát hiện, là không có cơ sở.

Trong khi qua xem xét hồ sơ cấp đất lần đầu vào năm 1999 cho hộ bà Q thể hiện cụ thể như sau: Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bà Q thể hiện đăng ký 02 thửa đất gồm thửa số 1134, tờ bản đồ số 01, diện tích 196m², loại đất thổ; thửa số 1137, tờ bản đồ số 01, diện tích 608m², loại đất lâu năm. Ngày 18/11/1999 hộ bà Lê Thị Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 đất nêu trên. Năm 2002 bà Q có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất cấp đổi

đất và được cấp cho hộ bà Q vào năm 2003. Cụ thể cấp đổi từ thửa số 1134, tờ bản đồ số 01, diện tích 196m², loại đất thổ sang các thửa:

- Thửa số 3, diện tích 276,4m², tờ bản đồ số 29 (Trong đó: loại đất thổ có diện tích là 196m² và đất lâu năm có diện tích là 80,4m²).

- Thửa số 4, diện tích 57,4m², tờ bản đồ số 29, loại đất lâu năm;

- Thửa số 5, diện tích 135,4m², tờ bản đồ số 29, loại đất lâu năm;

Như vậy, phần đất của thửa số 03, thửa số 04, thửa số 05 là được tách đổi từ thửa số 1134, tờ bản đồ số 01 chứ không phải kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận lần đầu.

Cấp đổi từ thửa số 1137, tờ bản đồ số 01, diện tích 608m², loại đất lâu năm sang thửa 12, diện tích 525,9m², tờ bản đồ số 29, loại đất lâu năm.

Cơ quan chuyên môn xác định nguyên nhân tăng, giảm diện tích đối với các thửa đất trên là có những thay đổi tăng, giảm do đo đạc tính toán sai.

Ngoài ra, các đương sự cũng thừa nhận khi bà D còn sống thì ở chung nhà với bà Q và khi bà D chết thì bà Q là người lo việc thờ cúng cho vợ chồng bà D nên bà D để bà Q đứng tên phần đất này là phù hợp, do trên phần đất có khu mộ.

Tại lời khai của bà C2, chị K3 (con ruột bà K) đã xác nhận khi bà D còn sống thì sống chung với bà Q, được bà Q chăm sóc, bà Q là người trực tiếp thờ cúng vợ chồng bà D. Khi bà D còn sống có nguyện vọng phần đất này để cho bà Q đứng tên để làm khu mộ là phù hợp lời khai của bà Q cũng như chứng cứ thu thập tại hồ sơ cấp đất cho hộ bà Q và hộ ông H2, bà K.

Lời khai của chị K4, anh Đ2 cũng xác nhận việc ông H2 đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 150,5m² là có đo đạc thực tế theo sự xác định ranh giới giữa hộ ông H2, bà K và những người giáp ranh đất hộ ông H2, bà K là phù hợp lời trình bày của bà Q, cũng như hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông H2, bà K.

Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Q.

Do đó lời trình bày và yêu cầu của bà K là không có căn cứ, vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà K là đúng.

Xét thấy, đối với việc bà Q yêu cầu hộ bà K di dời toàn bộ cây trồng, nhà bếp, mái che, nhà vệ sinh ra khỏi phần đất tại một phần thửa số 04, một phần thửa số 5 và theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/6/2021 của Tòa án thì trên phần đất tranh chấp có một phần căn nhà của bà Q xây dựng năm 2000, căn

nhà có kết cấu nền bê tông cốt thép, lát gạch men, mái ngói, trần la phong nhựa, tường 10 là có căn cứ chấp nhận. Như đã phân tích trên thì hiện nay nhà vệ sinh của hộ bà K xây dựng và sử dụng gần khu mộ của vợ chồng bà D làm ảnh hưởng vấn đề vệ sinh đến khu mộ. Trong khi bà K cũng thừa nhận hiện nay trong nhà lớn của bà K còn có một nhà vệ sinh để sử dụng nên việc bà Q yêu cầu hộ bà K di dời nhà vệ sinh sẽ không ảnh hưởng đến sinh hoạt của hộ bà K. Nên việc Tòa án cấp sơ thẩm cũng chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Q về việc yêu cầu hộ bà K phải di dời nhà vệ sinh là có căn cứ.

Từ những nhận định trên, không có căn cứ để xem xét kháng cáo của bà Lê Thị K.

[2] Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, bà K yêu cầu giám định chữ ký tên của ông H2 và bà C1 trong hồ sơ cấp đất của bà Q vì bà K không thừa nhận, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là không có căn cứ để chấp nhận, vì việc giám định này là không cần thiết, do diện tích đất không thuộc trường hợp tranh chấp ranh giới, thì việc gia đình bà K có ký tên giáp ranh trong thủ tục đo đạc cấp đất cho hộ bà Q mới có giá trị chứng minh trong mối quan hệ tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bà K.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền cho bà Lê Thị K cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị K, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Q; Sửa bản án sơ thẩm. Xét thấy là không có căn cứ như nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên bà K

phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng do bà K là người cao tuổi nên được miễn theo quy định.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 158, Điều 160 của Bộ luật dân sự; Điều 99, Điều 100 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị K.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 16/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K đối với hộ bà Lê Thị Q về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Lê Thị Q cụ thể diện tích đất 114,9m², thuộc một phần thửa số 04, một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 29, tại các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, D về mốc 6.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K tại vị trí các mốc 15, D, 17, 16 về mốc 15, có diện tích 2,9m².
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Lê Thị Q đối với hộ bà Lê Thị K.

Buộc hộ bà Lê Thị K di dời toàn bộ tài sản trên phần đất có diện tích 114,9m², thuộc một phần thửa số 04, một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 29, tại các mốc 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, D về mốc 6, đất tọa lạc tại Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để giao phần đất cho hộ bà Lê Thị Q.

Đất có tứ cận như sau:

+ Một cạnh giáp đất của bà Lê Thị K, ông Bùi Văn H2 thuộc thửa số 13.

+ Một cạnh giáp đất ông Lê Văn T7.

+ Một cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị Cà .

+ Một cạnh giáp đất hộ bà Lê Thị Q.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 02/6/2021 và Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ngày 02/6/2021).

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Bà Lê Thị K được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định của pháp luật.

    - Bà Lê Thị Q được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012010 ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Do anh Phan Thanh Đ1 nộp thay).

  2. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí đo đạc; Xem xét thẩm định tại chỗ; Định giá tài sản tranh chấp là 4.263.000 đồng do bà Lê Thị K phải chịu, bà Lê Thị K đã tạm ứng và chi xong.
  3. Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thị K là người cao tuổi nên được miễn theo quy định.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐ & KT TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND TP.Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS TP.Cao Lãnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA,TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 188/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Lê Thị K, sinh năm: 1952. Địa chỉ: Số C, Tổ A, Ấp C, xã M, TP ., tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị K là chị Bùi Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị K: Luật sư Phạm Hoàng Đ – Công ty L1 Luật sư - Chi nhánh Đ3. - Bị đơn: Lê Thị Q, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Số C, Tổ A, Ấp C, xã M, TP ., tỉnh Đồng Tháp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger