Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS-ST

Ngày 15/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mạnh Hải.

Ông Nguyễn Như Điệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Đắc Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/2024/TLST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại hai điểm cầu là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với các bị cáo:

1. Nhâm Văn N, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Khu T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nhâm Văn Q, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

Tiền án: Tại Bản án số: 239/2021/HSST ngày 22/10/2021, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngày 15/12/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 23/3/2022 bị cáo thi hành xong án phí.

Nhân thân: Tại Bản án số: 21/2018/HSST ngày 26/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 22/8/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phòng xét xử- Trại tạm giam Công an tỉnh B.

2. Đỗ Văn S, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số nhà G, ngách B, ngõ Đ, khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn B, sinh năm 1957 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1963; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phòng xét xử- Trại tạm giam Công an tỉnh B.

* Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Phan A- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ ngày 06/3/2024, tại khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an thành phố T phối hợp với Công an phường C tiến hành kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Nhâm Văn NĐỗ Văn S có hành vi bán phép chất ma túy cho 01 thanh niên tự khai tên là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989, HKTT: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tại thời điểm bắt quả tang có anh Kha Văn B1, sinh năm 1997, HKTT: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (là bạn của T1) có mặt ở đó. Tổ công tác đã thu giữ các vật chứng mà các đối tượng tự nguyện giao nộp gồm:

- 02 gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M1 và 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ và số “XSMB ngày 6/3/2024 PC -16570959” của Nguyễn Văn T1;

- 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số Seri PC-16570959 của Đỗ Văn S. N, S, T1 khai nhận đó là ma túy Heroine T2 vừa mua được của SN với giá 200.000 đồng.

- Nam tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong có 14 gói nhỏ, mỗi gói được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M2 và 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ đen, không gắn biển kiểm soát, có số khung RLHJ05240DY066547, số máy JC52E6103696.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng đồng thời gửi mẫu vật đi giám định.

Tại Kết luận giám định số: 662/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B đã kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0455 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroine.

- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 0,2138 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroine.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 110/CT- VKSTS ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử các bị cáo Nhâm Văn NĐỗ Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B, bị cáo N khai nhận: N và Sướng đều là đối tượng nghiện ma túy và có quan hệ quen biết nhau. Để có tiền chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng, NS đã rủ nhau mua ma túy về để đem bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ ngày 06/3/2024, tại phòng trọ của N mới thuê trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (chưa xác định được cụ thể), NS thống nhất mỗi người góp 250.000 đồng mua Heroine về để bán kiếm lời. Sướng đưa cho N 250.000 đồng, N cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô Wave RSX, màu đỏ đen, không biển kiểm soát một mình đi mua ma túy. N đi từ phòng trọ đến khu vực dân cư gần đó thuộc huyện Y để mua ma túy. Khi đang điều khiển xe trên đường, Nam nhìn thấy một thanh niên không quen biết đi đến một ngôi nhà có cửa tôn màu xanh ở bên đường rồi đút tiền qua lỗ của ô cửa, từ bên trong có người cửa vứt ra ngoài 01 gói nhỏ màu trắng. Người nam thanh niên nhặt gói đó lên rồi bỏ đi. N biết nhà đó có bán ma túy, N tiến lại gần cánh cửa ngôi nhà đó đút số tiền 500.000 đồng qua lỗ nhỏ trên cửa. Người trong nhà cầm tiền, rồi đưa ra ngoài cho N 01 gói ma túy bọc ngoài là lớp giấy màu trắng. N cầm gói ma túy mua được rồi quay về phòng trọ. Tại đây, N mở gói ma túy ra thấy bên trong có chất bột màu trắng, Nam biết đó là ma túy Heroine. N lấy dao tem chia nhỏ gói ma túy vừa mua được, rồi bọc bằng giấy do S cắt từ bì thư, gói lại thành 16 gói ma túy. N để 16 gói ma túy vào trong 01 túi nilon mầu trắng giấu ở túi áo ngực bên phải N đang mặc. NS thống nhất bán mỗi gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau đó, N điều khiển xe mô tô Wave RSX, không biển kiểm soát chở S đi ra khu vực thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để bán ma túy cho những người nghiện. Khoảng 15 giờ cùng ngày, NS đến khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh thì gặp Nguyễn Văn T1Kha Văn B1 đang đứng ở bên đường. N lái xe lại gần T1B1. Tại đây, T1 hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine của NS, NS đồng ý bán. T1 đưa cho S 200.000 đồng, S cầm tiền rồi đút vào túi quần phía trước bên phải của S. Còn N lấy 02 gói ma túy ra đưa cho T1. Cùng lúc này N, S, T1 bị tổ công tác Công an thành phố T phối hợp với Công an phường C kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở bản Cáo trạng.

Bị cáo S thừa nhận bị cáo có hành vi góp 250.000 đồng cùng với N để mua ma túy về bán kiếm lời. Số ma túy N mua về được chia nhỏ ra 16 gói để hai bị cáo bán với giá 100.000đồng/gói. Khi bị bắt quả tang, bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo và N đã bán 02 gói ma túy cho T1. Ngoài ra, bị cáo không bị thu giữ gì khác. Hai bị cáo còn khai nhận ngày 04/3/2024, NS còn có hành vi mua ma túy của người không quen biết và đã sử dụng hết.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nhâm Văn NĐỗ Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nhâm Văn N từ 42 đến 46 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn S từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2024.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với cả hai bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định đã được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục THADS thành phố T. Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ số XSMB ngày 06/3/2024 PC16570959.

Các bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 06/3/2024, Nhâm Văn NĐỗ Văn S rủ nhau góp mỗi người 250.000 đồng mua ma túy mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau khi N mua được 01 gói ma túy Heroine của người không quen biết, NS đã chia gói ma túy mua được thành 16 gói nhỏ ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,2593 gam để bán kiếm lời. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi NS đang bán 02 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,0455 gam cho Nguyễn Văn T1 tại khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh thì bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan, trong đó Cơ quan công an có thu giữ được 14 gói ma túy còn lại của NS có khối lượng là 0,2138 gam.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nhâm Văn NĐỗ Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội; ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người; làm lây lan tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do đó, cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất của vụ án và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo có sự bàn bạc với nhau từ trước để góp tiền mua ma túy về bán kiếm lời, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Trong đó, bị cáo N giữ vai trò chính khi trực tiếp là người đi mua ma túy và trực tiếp chia nhỏ số ma túy ra và gói lại thành 16 gói để bán. Bị cáo S giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo N trong việc cùng góp tiền và trực tiếp cắt 16 mảnh giấy nhỏ để N gói lại thành 16 gói ma túy. Do đó, bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo S.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo N là người có nhân thân rất xấu, là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2021 đến nay và đã từng 02 lần bị Tòa án các cấp xử phạt về các tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2018 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2021. Đối với Bản án năm 2018 bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích nên xác định là nhân thân của bị cáo. Còn đối với Bản án số: 239/2021/HSST ngày 22/10/2021 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 15/12/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 23/3/2022 thi hành xong án phí hình sự. Đối với lần phạm tội này, bị cáo chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo S, mặc dù chưa có tiền án tiền sự nhưng cũng là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2014 đến nay và chưa thể cai nghiện được. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cả hai bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ số XSMB ngày 06/3/2024 PC16570959 thu của đối tượng T1 cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989; trú tại: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh là người đã mua ma túy của NS mục đích để sử dụng. Quá trình làm việc, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ T1 đã bỏ trốn, không bắt giữ được. Quá trình xác minh tại địa phương không có người có họ tên, địa chỉ, nhân thân như T1 đã khai báo. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với anh Kha Văn B1, sinh năm 1997; HKTT: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An có mặt khi Cơ quan Công an bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định, anh B1 không được T1 nói cho biết việc mua bán ma túy giữa T1 với NS, mặt khác do đang mua bán thì bị bắt quả tang nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý về hình sự mà chỉ nhắc nhở, giáo dục đối với anh B1 là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ đen, số khung RLHJ05240DY066547, số máy JC52E6103696 mà N sử dụng để đi mua, bán ma túy. Qua điều tra xác định: Chiếc xe mô tô trên đăng ký mang tên Phạm Thị Thanh C1, sinh năm 1992; trú tại khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình sử dụng, chị C1 đã bán chiếc xe này năm 2019 cho người không quen biết. N khai, trước thời điểm phạm tội vài ngày, N đã mượn chiếc xe trên của một người phụ nữ tên T3, khoảng 35 tuổi, quê ở huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Đến nay, chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của T3, chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe này, đồng thời xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe máy này ra để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với người thanh niên đã mua ma túy tại ngôi nhà cửa tôn màu xanh và người đã bán ma túy cho Nam ngày 06/3/2024 tại huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; 02 người đàn ông đã bán ma túy cho N và Sướng ngày 04/3/2024. Do N không biết tên, tuổi địa chỉ của những người này và không biết địa chỉ cụ thể của ngôi nhà đó, nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 04/3/2024 của NS, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” với NS là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo N); Điều 38; Điều 17, Điều 58; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 329; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố các bị cáo Nhâm Văn NĐỗ Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Nhâm Văn N 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2024.
    • Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2024.
    • Phạt bổ sung mỗi bị cáo 05 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
    • Quyết định tạm giam bị cáo Nhâm Văn NĐỗ Văn S mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định đã được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong (mặt trước phong bì có chữ “Cơ quan CSĐT-CATPTS. Mẫu vật sau giám định trong vụ mua bán trái phép chất ma túy xảy ra tại phường C, T, BN ngày 06/3/2024).

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục THADS thành phố T.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn ngày 20/6/2024);

    Lưu hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ số XSMB ngày 06/3/2024 PC16570959.

  4. Về án phí: Bị cáo Nhâm Văn NĐỗ Văn S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND, VIKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 188/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger