|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 188/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa
Ông Mai Xuân Thường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Ngọc H, sinh năm 1997;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Căn hộ G, chung cư G, khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: J, 044 14 čaňa košice - okolie, cộng hòa Slovakia; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Phan Thị Diệu L, sinh năm 1998;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Căn hộ G, chung cư G, khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: J, 044 14 čaňa košice - okolie, cộng hòa Slovakia; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1964;
Địa chỉ cư trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ tại X-va-kia), nguyên đơn anh Lê Ngọc H trình bày:
Ngày 15 tháng 05 năm 2018, anh và chị Phan Thị Diệu L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh phải đi xuất khẩu lao động sang nước cộng hòa S. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc, nhưng do xa cách địa lý, vợ chồng luôn nghi ngờ nhau không chung thủy nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Cuối năm 2023, do không tin tưởng nhau nên chị L cũng đi xuất khẩu sang nước Slovakia để làm ăn với anh. Tuy nhiên, do tình tình quan điểm sống không hợp nhau, không còn tin tưởng nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được; vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau và không còn tình cảm với nhau. Vì vậy, anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị Diệu L.
Về con chung: Anh và chị Phan Thị Diệu L có 02 con chung là Lê Ngọc Cẩm T, sinh ngày 26/01/2017 và Lê Ngọc Uy V, sinh ngày 22/3/2019. Nếu ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao các con Lê Ngọc Cẩm T và Lê Ngọc Uy V cho chị Phan Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Lê Ngọc H hiện đang cư trú và làm việc tại nước cộng hòa Slovakia, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Văn phòng L1, số B đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ tại X-va-kia), bị đơn chị Phan Thị Diệu L trình bày:
Ngày 15 tháng 05 năm 2018, chị và anh Lê Ngọc H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2020, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh H phải đi xuất khẩu lao động sang nước cộng hòa S. Thời gian đầu ở nước ngoài thì anh H chịu khó làm ăn. Nhưng đến năm 2023, anh H thường xuyên chơi bời và không chịu làm ăn. Cuối năm 2023, chị cũng đi sang nước Slovakia để được gần chồng và khuyên bảo chồng làm ăn. Tuy nhiên, sau khi chị sang nước S thì anh H vẫn không chịu làm ăn và thường xuyên chơi bời. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng vẫn không có kết quả. Đến nay, cuộc sống vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn thương yêu nhau, anh H không quan tâm, chăm sóc gia đình nên tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, anh H làm đơn xin ly hôn thì chị cũng đồng ý.
2
Về con chung: Chị và anh Lê Ngọc H có 02 con chung là Lê Ngọc Cẩm T, sinh ngày 26/01/2017 và Lê Ngọc Uy V, sinh ngày 22/3/2019. Nếu ly hôn, chị và anh H thỏa thuận: Giao các con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc các con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Do chị đang ở nước ngoài nên chị nhờ mẹ là bà Đoàn Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng các con cho đến khi chị về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phan Thị Diệu L đang cư trú và làm việc tại nước cộng hòa S1, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho mẹ là bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt.
Theo đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị H1 trình bày:
Bà là mẹ của chị Phan Thị Diệu L còn anh Lê Ngọc H là chồng của chị L. Ngày 15 tháng 05 năm 2018, chị L và H kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Lê Ngọc Cẩm T, sinh ngày 26/01/2017 và Lê Ngọc Uy V, sinh ngày 22/3/2019. Đến năm 2020, anh H đi xuất khẩu lao động sang nước Slovakia. Đến cuối năm 2023, chị L cũng đi làm ăn ở nước Slovakia với anh H và đã gửi 02 cháu T và V cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó cho đến nay. Nay anh H và chị L ly hôn và thỏa thuận chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu. Do chị L đang ở nước ngoài nên nhờ bà chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu T và V thì bà đồng ý. Đồng thời, bà cũng không yêu cầu anh H và chị L phải trả công chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Vì bận công việc và phải chăm sóc các cháu nên bà đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Ngọc H hiện đang cư trú tại nước cộng hòa S đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị Diệu L hiện đang cư trú tại nước cộng hòa S; trước xuất cảnh, anh H và chị L đều có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
3
Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài; các đương sự đề nghị không tiến hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Lê Ngọc H và bị đơn chị Phan Thị Diệu L hiện đang cư trú tại nước cộng hòa S, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh H ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Văn phòng L1, số B đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có chứng thực của Đ tại X-va-kia) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Phan Thị Diệu L ủy quyền cho bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có chứng thực của Đ tại X-va-kia) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Đoàn Thị H1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn trình bày ý kiến cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 15 tháng 05 năm 2018, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh H phải đi xuất khẩu lao động sang nước cộng hòa S. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc, nhưng do xa cách địa lý, vợ chồng luôn nghi ngờ nhau không chung thủy nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Cuối năm 2023, do không tin tưởng nhau nên chị L cũng đi xuất khẩu sang nước cộng hòa Slovakia để làm ăn với anh H. Tuy nhiên thời gian chung sống ở nước ngoài, anh H cho rằng: Vợ chồng tính tình quan điểm sống không hợp nhau, không còn tin tưởng nhau. Còn chị L thì trình bày: Anh H không chịu làm ăn và không có trách nhiệm với gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Hiện tại vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau và không còn tình cảm với nhau. Do đó, anh H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị L. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lê Ngọc H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L có 02 con chung. Nay ly hôn, anh H và chị L thỏa thuận: Chị Phan Thị Diệu L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lê Ngọc Cẩm T, sinh ngày 26/01/2017 và Lê Ngọc Uy V, sinh ngày 22/3/2019 đến lúc các con đủ 18
4
tuổi, trưởng thành. Do chị Phan Thị Diệu L đang ở nước ngoài nên bà Đoàn Thị H1 (mẹ của chị L) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Lê Ngọc Cẩm T và Lê Ngọc Uy V cho đến khi chị L về Việt Nam với các cháu.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Phan Thị Diệu L và bà Đoàn Thị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5]. Về án phí: Anh Lê Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Lê Ngọc H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L được ly hôn.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L có 02 con chung;
Giao cho chị Phan Thị Diệu L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Lê Ngọc Cẩm T, sinh ngày 26/01/2017 và Lê Ngọc Uy V, sinh ngày 22/3/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị Phan Thị Diệu L đang ở nước ngoài nên bà Đoàn Thị H1 (mẹ của chị L) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Lê Ngọc Cẩm T và Lê Ngọc Uy V cho đến khi chị L về Việt Nam với các cháu.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Phan Thị Diệu L và bà Đoàn Thị H1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
5
Sau khi ly hôn, anh Lê Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Anh Lê Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh H đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012830 ngày 09/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Lê Ngọc H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Ngọc H và chị Phan Thị Diệu L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Đoàn Thị H1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
6
Bản án số 188/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 188/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa H và L
