Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/DSPT

Ngày: 14-5-2024

V/v “tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử

dụng đất và tranh chấp hợp

đồng đặt cọc”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Trang Thư;

Bà Phan Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2023/TLPT- DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng nhận cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DS - ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ bị bị đơn ông Huỳnh Xuân N kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 471/2023/QĐPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1979; địa chỉ: 2 A, khu phố B, Phường T, Quận I (nay là thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  2. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Thi Tấn S, sinh năm 1956; địa chỉ: C T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  3. Ông Huỳnh Xuân N, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  4. Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: bà Huỳnh Thu N1, sinh năm 1965 là Luật sư thuộc Công ty L; địa chỉ: Số G khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  5. Bà Lê Thị Tuyết T, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; (có mặt)
  6. Hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.

  7. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Bích P, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
    2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
    3. Ông Nguyễn Khoa N2, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  8. Người kháng cáo: Ông Huỳnh Xuân N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V yêu cầu buộc ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T có trách nhiệm thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa 1874, tờ bản đồ số 06, diện tích 2.640,9 m², đất trồng cây lâu năm; Thửa 1882, tờ bản đồ số 06, diện tích 200 m² đất ở nông thôn; Thửa 1886, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.472,1 m² đất chuyên trồng lúa nước, căn nhà cấp 4 chiều ngang 7,9 m, chiều dài 25 m mái tôn tọa lạc trên đất. Tất cả các thửa đất có tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Nay ông N và bà T đã chuyển nhượng các thửa đất này cho ông Nguyễn Văn T1 đứng tên nên nay bà V chỉ yêu cầu ông N và T có trách nhiệm trả cho bà V 1.700.000.000 đồng và yêu cầu ông N và bà T chịu phạt cọc thêm cho bà V 1.700.000.000 đồng.

Đại diện theo uỷ quyền của phía nguyên đơn trình bày: Nguyên vào ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, bà Nguyễn Thị Bích V có thoả thuận việc mua bán nhà đất, bên bán là ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T đồng ý việc bán, chuyển nhượng cho bà V. Để đảm bảo việc mua bán đất, hai bên đã ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất. Bên nhận cọc là ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T, bên đặt cọc là bà Nguyễn Thị Bích V với nội dung, ông N và bà T đồng ý bán cho bà V 03 thửa đất gồm: Thửa 1874, tờ bản đồ số 06, diện tích 2.640,9 m², đất trồng cây lâu năm; Thửa 1882, tờ bản đồ số 06, diện tích 200 m² đất ở nông thôn; Thửa 1886, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.472,1 m² đất chuyên trồng lúa nước, căn nhà cấp 4 chiều ngang 7,9 m, chiều dài 25 m tọa lạc trên đất với giá chuyển nhượng thoả thuận là 4.350.000.000 đồng. Phía bà V đã đặt cọc cho ông N và bà T số tiền 1.700.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Cụ thể các đợt chuyển khoản tiền như sau:

  • +Ngày 10/9/2020 bà V chuyển tiền đặt cọc cho ông N số tiền 200.000.000 đồng (số tài khoản: 0111000359033).
  • +Ngày 25/9/2020 bà V chuyển tiền cọc 02 lần cho ông N với số tiền 500.000.000 đồng.
  • +Ngày 11/11/2020 bà V nhờ chị của bà V là Lê Bích P chuyển tiếp tiền cọc với số tiền 1.000.000.000 đồng.

Tổng cộng bà V đã chuyển tiền đặt cọc cho ông Huỳnh Xuân N là 1.700.000.000 đồng.

Ông Huỳnh Xuân N là bị đơn trong vụ án trình bày: Vào tháng 7 năm 2020 do ông có nhu cầu cần bán căn nhà cấp 4 và đất tổng diện tích 4.313 m², giá bán 4.500.000.000 đồng. Đầu tháng 8 năm 2020 ông Đặng Văn C ngụ ấp T, xã T, huyện T có giới thiệu (môi giới) cho ông Nguyễn Khoa N2 có nhu cầu mua bán tài sản mà vợ chồng ông muốn bán. Trong khoảng thời gian tháng 8 năm 2020 ông C có dẫn ông N2 và bà Nguyễn Thị Bích V (ông N2 là anh ruột của bà V) vào coi đất. Sau đó thống nhất mua số tài sản nhà và đất nhưng về phần giá bán thì bà V nói để ông N2 và cha ruột của bà V ở nhà tính, bà V là người thanh toán tiền. Qua vài hôm sau, ông C và N2 gặp vợ chồng ông hỏi giá bán đưa ra như vậy có bớt không, vợ chồng ông thống nhất bớt 100.000.000 đồng nhưng sau đó hơn 10 ngày vợ chồng ông không thấy ông C và ông N2 liên hệ nên có gặp ông C hỏi thì ông C nói để nói chuyện với gia đình ông N2. Đến tối ngày 18/8/2020 ông C có điện thoại trao đổi và cho biết là cha ruột của bà V kêu bớt thêm (có đoạn ghi âm). Qua ngày hôm sau ông cùng ông C và N2 gặp nhau đi đến thống nhất bán cho N2 số tiền 4.350.000.000 đồng. Do chỗ gia đình ông và gia đình ông N2 quen biết nên không có làm hợp đồng tay. Ông xác định là chỉ nhận cọc của bà V 02 lần là 700.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, thoả thuận đặt cọc chỉ liên hệ qua điện thoại. Thời gian sau cùng để thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng là ngày 02 tháng 9 năm 2020 nhưng bà V đã vi phạm thời hạn để ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Nay ông và bà T có yêu cầu phản tố là ông bà được hưởng số tiền 700.000.000 đồng bà V đã đặt cọc và bà V phải mất số tiền cọc 700.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn thì ông và bà T không đồng ý toàn bộ, các thửa đất ông đã chuyển nhượng cho ông T1 nên bà V không yêu cầu ông tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng thì ông cũng thống nhất. Riêng đối với số tiền 1.000.000.000 đồng bà Lê Bích P đã đặt cọc cho ông thì do ông ký kết với bà P nên là một vụ việc khác. Trong thời gian thoả thuận đặt cọc với bà V và bà P thì các thửa đất ông định chuyển nhượng đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng.

Bà Lê Thị Tuyết T là bị đơn trong vụ án trình bày: Thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của chồng bà là Huỳnh Xuân N mà không trình bày bổ sung hay yêu cầu gì thêm.

Ông Nguyễn Văn T1 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có lời khai: Ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông N, bà T và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do nguyên đơn cũng không yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông N. Nay ông xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Bà Lê Bích P (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có lời khai: Bà V có nhờ bà thoả thuận đặt cọc nhận chuyển nhượng các thửa đất như phía nguyên đơn trình bày nêu trên với giá nhận chuyển nhượng là 3,7 tỷ đồng. Trong này bà nhận chuyển khoản của bà V 2 lần với số tiền 1 tỷ và bà đã làm hợp đồng đặt cọc mua bán đất với ông Huỳnh Xuân N, bà Lê Thị Tuyết T với giá nhận chuyển nhượng là 3,7 tỷ đồng, bà chồng tiền mặt cho ông N, bà T 01 tỷ đồng, thoả thuận khi ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng sẽ đưa thêm 2,6 tỷ đồng. Khi hoàn thành đứng tên quyền sử dụng đất thì đưa số tiền còn lại là 100.000.000 đồng. Bà V và bà thoả thuận là bà chỉ đứng tên hợp đồng đặt cọc, còn đứng tên giấy chứng nhận là bà V hoặc cha của bà V đứng tên, bà có thoả thuận với bà T là khi sang tên bà sẽ nhờ anh của bà đứng tên.

Ông Nguyễn Khoa N2 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có lời khai: Ông khẳng định là ông không liên quan đến vấn đề nhận cọc hay bỏ cọc của các bên nguyên đơn hay bị đơn, bản thân ông hoàn toàn không có thẩm quyền để ký kết hay thực hiện hợp đồng này do không được các bên uỷ quyền trong giao dịch này. Việc ông Huỳnh Xuân N muốn đưa ông là người liên quan và nói ông yêu cầu bỏ cọc là vô căn cứ nhằm kéo dài thời gian gây khó khăn cho người khác.

Tại bản án số 62/2023/DS – ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.

Tuyên bố: Hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị Bích V với ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T là vô hiệu.

Buộc ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng.

Đối với số tiền phải thi hành thì kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Dành cho bà Lê Bích P một vụ kiện dân sự khác đối với số tiền 1.000.000.000 đồng đã chuyển khoản cho ông Huỳnh Xuân N.

Dành cho bà Nguyễn Thị Bích V một vụ kiện dân sự khác đối với bà Lê Bích P đối với số tiền 1.000.000.000 đồng đã chuyển khoản cho bà P.

Đình chỉ yêu cầu tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Bích V với ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Bản án nêu trên đã bị phía bị đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguyên đơn đã kéo dài thời gian trả tiền và bỏ cọc nên nguyên đơn phải chịu mất cọc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nhận thấy: Tại phiên tòa, phía bị đơn ông N thừa nhận có thỏa thuận với bà V hợp đồng mua bán là 4.300.000.000 đồng và bà V đã chuyển 7.000.000 đồng để đặt cọc cho ông N. Sau đó, ông N và bà P tiếp tục thỏa thuận mua bán với giá 3.700.000.000 đồng lý do là ông N đã nhận của bà V 700.000.000 đồng trước đó nên ký hợp đồng 3.700.000.000 đồng là đã trừ số tiền trước đó của bà V.

Các bên đương sự cũng thống nhất cho rằng: Do bà P là người được bà V nhờ đứng ra đặt cọc giùm bà V số tiền 1.000.0000.000 đồng với ông N, bà T. Bà P không có yêu cầu độc lập mà để bà V yêu cầu ông N và bà T trả lại số tiền này là phù hợp. Bản án dân sự sơ thẩm tuyên tách số tiền 1.000.000.000 đồng ông N nhận của bà P để giải quyết trong vụ án khác là chưa giải quyết dứt điểm triệt để vụ án.

Bà V yêu cầu ông N và bà T trả số tiền 1.700.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận. Đối với phần phạt do vi phạm phạt cọc 1.700.000.000 đồng mà nguyên đơn yêu cầu, do ngay từ đầu khi kết hợp hợp đồng cọc không thể thực hiện được mà phía nguyên đơn biết nên cũng có lỗi. Nên yêu cầu về phạt cọc không có căn cứ xem xét.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 1.700.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn do không có cơ sở xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa xác định, bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể: bị đơn không đồng ý trả lại tiền đặt cọc cho nguyên đơn do nguyên đơn đã vi phạm hợp đồng không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên nguyên đơn phải chịu mất cọc.
  2. Nhận thấy, vào ngày 10/09/2020 giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận đặt cọc và nhận cọc một số tiền để đảm bảo cho việc chuyển nhượng căn nhà cấp 4 và đất tổng diện tích 4.313 m². Thỏa thuận này, các bên không lập thành văn bản mà chỉ thỏa thuận miệng. Các bên cũng không thỏa thuận cụ thể về thời gian thực hiện hợp đồng, các điều khoản đặt cọc, phạt cọc, mất cọc hay bồi thường thiệt hại. Quá trình thực hiện hợp đồng các bên đều cho rằng lỗi của bên kia nên dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được. Tuy nhiên các bên không có chứng cứ nào chứng minh bên kia có lỗi. Ông nhân cho rằng bà V có nhắn tin với bà T với nội dung “đến ngày 02/11/2020 là hạn chót để thực hiện hợp đồng đặt cọc, nếu hết thời gian này mà bà V không đưa tiếp tiền thì coi như bỏ cọc” nhưng chưa có cơ sở nào xác định số điện thoại nhắn tin cho bà T là của bà V.
  3. Ngoài ra, ông N còn cho rằng vợ chồng ông trao đổi trực tiếp và thỏa thuận việc mua bán với ông N2 (em ruột bà V). Mặt khác, ông N2 cũng ký vào Tờ cam kết ngày 05/11/2020 với nội dung “nếu ngày 06/11/2020 không tiếp tục đưa them 02 tỷ đồng thì vợ chồng ông có quyền chuyển nhượng cho người khác và coi như bên mau mất cọc”. Xét thấy, việc thỏa thuận đặt cọc là giữa bị đơn và bà V, còn nội dung cam kết là giữa bà T với ông N2 và ông N2 không có sự ủy quyền nào từ phía bà V đồng thời nội dung bản cam kết này cũng không thể hiện rõ quyền sử dụng đất chuyển nhượng trong tờ cam kết có phải là quyền sử dụng đất mà bà V chuyển nhượng cho bị đơn hay không nên không thể xem cam kết này là cam kết giữa bà V với bị đơn;
  4. Từ những nhận định trên cho thấy bị đơn chưa chứng minh được nguyên đơn có vi phạm thỏa thuận đặt cọc nên buộc nguyên đơn mất cọc là chưa có cơ sở. Hiện tại quyền sử dụng đất nêu trên bị đơn đã chuyển nhượng cho người khác nên không thể tiếp tục chuyển nhượng cho bà V. Do đó, bà V yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền đặt cọc là có cơ sở. Bản án dân sự sơ thẩm đã tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 700.000.000 đồng là có căn cứ nên giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Ông N kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông nên yêu cầu kháng cáo không có cơ sở chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

Về án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng ông N phải chịu. Ông N được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – ông Huỳnh Xuân N.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 62/2023/DS – ST ngày 08/06/20223 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
    2. Tuyên bố: Hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị Bích V với ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T là vô hiệu.

      Buộc ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Bích V số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng).

      Đối với số tiền phải thi hành thì kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    3. Dành cho bà Lê Bích P một vụ kiện dân sự khác đối với số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) đã chuyển khoản cho ông Huỳnh Xuân N.
    4. Dành cho bà Nguyễn Thị Bích V một vụ kiện dân sự khác đối với bà Lê Bích P đối với số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) đã chuyển khoản cho bà P.
    5. Đình chỉ yêu cầu tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Bích V với ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T.
  3. Về án phí dân sự:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Huỳnh Xuân N và bà Lê Thị Tuyết T có trách nhiệm liên đới nộp 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).
    2. Buộc bà Nguyễn Thị Bích V có trách nhiệm nộp 42.000.000 đồng. (bốn mươi hai triệu đồng) chuyển số tiền tạm ứng án phí 31.500.000 đồng (ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005215 ngày 05 tháng 01 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thành tiền án phí. Buộc bà Nguyễn Thị Bích V có trách nhiệm nộp tiếp 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    3. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông N phải chịu. Ông N được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005218 ngày 19/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - TAND huyện Thới Lai;
  • - Chi Cục THADS huyện Thới Lai;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/DSPT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 188/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vân - Nhơn - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger