Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-5-2024

“V/v tranh chấp của nam, nữ

chung sống với nhau như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Văn Đoan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tới

Ông Hồ Quang Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa

Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng D, sinh năm: 1983 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng D trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2003, hôn nhân tự nguyện và không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay thấy không thể tiếp tục sống chung nên bà yêu cầu ly hôn ông Đ.

Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thái M, sinh năm 2004; Nguyễn Kiều M1, sinh năm 2005; Nguyễn Kiều T, sinh năm 2015. Hiện cháu hai cháu Thái M và Kiều M1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Kiều T đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Kiều T, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà D1 có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn Đ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Hồng D2 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Ông Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D2, ông Đ là đúng quy định. Bà D2 yêu cầu được ly hôn nên xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, giữa bà Nguyễn Hồng D2 và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003, tuy có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tại đơn khởi kiện bà D2 xác định do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu ly hôn với ông Đ, ông Đ cũng không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì về các yêu cầu của bà D2. Do bà D2 và ông Đ không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy không công nhận bà Nguyễn Hồng D2 và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

[3] Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thái M, sinh năm 2004; Nguyễn Kiều M1, sinh năm 2005; Nguyễn Kiều T, sinh năm 2015. Hiện hai cháu Thái M và Kiều M1 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét. Xét yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Kiều T, sinh ngày 16/6/2015 của bà D2 thấy rằng: Cháu Nguyễn Kiều T hiện đang sống chung với bà D2. Hơn nữa, cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ, việc giao cháu T cho bà D nuôi dưỡng sẽ không làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D2 về việc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Kiều T. Ông Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà D2 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do không ghi nhận được ý kiến của bị đơn ông Đ, nếu sau này có phát sinh tranh chấp ông Đ có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[5] Về nợ chung: Bà D2 xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng D2 phải chịu 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 8, 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng D2 - Không công nhận bà Nguyễn Hồng D2 và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiều T, sinh ngày 16/6/2015 cho bà Nguyễn Hồng D2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét. Ông Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng D2 phải chịu 300.000 đồng. Ngày 06/02/2024 bà D2 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0004474 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Án xử sơ thẩm, bà Nguyễn Hồng D2 và ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Đ1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU về tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

  • Số bản án: 188/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger