|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 188/2024/HS-ST Ngày 11 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Khel .
Ông Huỳnh Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Tô Hoàng V (tên gọi khác: Vinh T), sinh ngày 24/5/1987 tại Sóc Trăng;
Nơi cư trú: A, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Tô Hoàng A (chết) và bà Hà Thị Mỹ D; vợ: Trương Thị Mỹ L (đã ly hôn); con: 02 người. Tiền án: Không; Tiền sự: Không (về nhân thân: vào ngày 28/11/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Sóc Trăng (nay là thành phố S) xử phạt 02 năm tù về Tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 12/3/2008, đã xóa án tích); Bị cáo đang tạm giam trong vụ án khác (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Lâm Xuân H, sinh ngày 16/02/2002. Địa chỉ: ấp B, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 26/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S kết hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh S, tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số 64B1 - 922.10 đang đỗ xe tại khu vực nhà số C, đường V, Khóm B, Phường G, thành phố S của Phạm Tấn T1, sinh năm: 1990; Nơi thường trú: Số D, đường T, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long và Trần Thị N sinh năm: 2000; Nơi thường trú: Á, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Qua kiểm tra phát hiện ngay vị trí đỗ xe của T1 có một áo mưa được quấn thành cuộn bên trong chứa chất rắn màu trắng nghi vấn ma túy, Công an thành phố S đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình làm việc với Phạm Tấn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra C thành phố Sóc Trăng đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tô Hoàng V tại số A đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S thì phát hiện tại vị trí gần tủ trong nhà sau của V có 01 khẩu súng ngắn màu đen, dạng ổ quay, có dòng chữ “SMITH & WESSON XIAO YUE LIANG ZP-5 MADE IN CHINA". Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu giữ khẩu súng theo quy định.
Ngày 15/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S chuyển hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng kèm theo tài liệu có liên quan nêu trên đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại kết luận giám định số 4633/KL-KTHS ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: một khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Tô Hoàng V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận 01 khẩu súng có kết quả giám định là vũ khí quân dụng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nhà của bị cáo. Nguồn gốc khẩu súng có được vào tháng 7/2024, khoảng 19 giờ do Lâm Xuân H, sinh ngày 16/02/2002, Nơi thường trú: ấp B, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng đến nhà của bị cáo để mua ma túy sử dụng với số tiền 300.000 đồng, do H không có tiền trả nên H đã để lại một khẩu súng ngắn màu đen ở quay, có dòng chữ “SMITH & WESSON XIAO YUE LIANG ZP-5 MADE IN CHINA" để V cất giữ, khi nào H có tiền sẽ quay lại trả tiền cho V và lấy lại khẩu súng. Sau khi nhận được khẩu súng V đã cất khẩu súng chung với số đồ chơi của người con nhỏ của V ở dưới chân tủ nhà sau được khoảng một tuần. Đến ngày 26/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của V tại số A đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S phát hiện một khẩu súng ngắn có đặc điểm như nêu trên đã tạm giữ theo quy định. Quá trình cất giữ súng trên bị cáo V thực hiện một mình, không ai tham gia cùng bị cáo.
Về nguồn gốc của khẩu súng nêu trên, quá trình điều tra Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành rà soát, xác mình nguồn gốc, thông tin tại các Cơ quan chức năng, nhưng không có thông tin liên quan.
Về vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 khẩu súng có kết quả giám định là vũ khí quân dụng. Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S nhập kho vật chứng theo quy định.
Đối với Lâm Xuân H thừa nhận có đến nhà của Tô Hoàng V để mua ma túy không thừa nhận để lại khẩu súng cho V, xét thấy chỉ có duy nhất lời khai của V, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh H để lại khẩu súng cho V. Do đó chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với H liên quan đến khẩu súng mà V đã tàng trữ. Nhưng đối với hành vi mua ma túy của H có liên đến vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” không thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan An ninh điều tra. Vì vậy, Cơ quan A1 điều tra đã ra Thông báo kết quả làm việc Lâm Xuân H cùng tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S để giải quyết theo quy định.
Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSST-P1 ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố trước Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng để xét xử bị cáo Tô Hoàng V về “Tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và phân công Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng: vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 53/CT-VKSST-P1 ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: tuyên bố bị cáo Tô Hoàng V phạm “Tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 (bị cáo là lao động chính trong gia đình) Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 khẩu súng có kết quả giám định là vũ khí quân dụng. Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S nhập kho vật chứng theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S để xử lý theo quy định.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Tô Hoàng V: thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận, bào chữa đối đáp với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và bị cáo nói lời nói sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lâm Xuân H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Bị cáo Tô Hoàng V là công dân Việt Nam, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, không mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tô Hoàng V thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là phản ánh đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo V tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp hoàn toàn với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận giám định số 4633/KL-KTHS ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: một khẩu súng gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
Do vậy, hành vi tàng trữ một khẩu súng là vũ khí quân dụng tại nơi ở của bị cáo đã phạm vào “Tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự (khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”). Từ đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố để xét xử bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
[5] Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, trị an tại địa phương nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Tô Hoàng V phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết nêu trên được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự.
[7] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ:
Đối với 01 khẩu súng có kết quả giám định là vũ khí quân dụng. Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S nhập kho vật chứng theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S để xử lý theo quy định.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Đối với Lâm Xuân H không thừa nhận khẩu súng quân dụng là của H và Cơ quan An ninh điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh khẩu súng là của H nên không xử lý trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/. Tuyên bố: Bị cáo Tô Hoàng V phạm “Tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
2/. Xử phạt: Bị cáo Tô Hoàng V 1 (một) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
3/. Về vật chứng: Giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S để xử lý theo quy định: 01 (một) súng ngắn màu đen, dạng ổ quay, có dòng chữ “SMITH & WESSON XIAO YUE LIANG ZP-5 MADE IN CHINA".
4/. Về án phí: Buộc bị cáo Tô Hoàng V phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trúc Phương |
Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 188/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Hoàng V
