Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Cao Thị Hạ

Bà Nguyễn Thị Mai Vinh

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/HSST-QĐ ngày 27/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 23 tháng 02 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Bùi Thị B; có vợ Phạm Thị B1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07/10/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/5/2023, Nguyễn Văn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú và khai nhận đã thành lập và sử dụng 06 Công ty “ma”, không có hoạt động sản xuất kinh doanh để mua bán trái phép hóa đơn, cụ thể:

  1. Công ty TNHH Đ4 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ4), địa chỉ: T đất số 143A, tờ bản đồ số 24, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng thành lập ngày 08/01/2018 do ông Ngô Văn M, sinh năm 1964, địa chỉ: Số A Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng làm giám đốc. Ngày 21/2/2022, Ngô Văn M chuyển nhượng công ty cho Vũ Đình D, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.
  2. Công ty TNHH X (Sau đây gọi tắt là Công ty X), địa chỉ: Lô L, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng thành lập ngày 04/3/2020 do Đoàn Văn C, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện A, Hải Phòng làm giám đốc. Đến ngày 25/9/2020, thay đổi người đại diện là Nguyễn Nhất N (sinh năm 1982, Đ/c: Áp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang).
  3. Công ty TNHH Đ5 (Sau đây gọi tắt là Công ty Đ5), MST: 0202150488, địa chỉ: T tờ bản đồ số 24, Đ, Hồ N, A, Hải Phòng thành lập vào ngày 21/02/2022, do Phạm Thị B1, sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng làm giám đốc.
  4. Công ty TNHH D1 (Sau đây gọi tắt là Công ty D1), MST: 1001230618, địa chỉ: Số nhà F, Trần Thái T, Trần Hưng Đ2, Thái Bình thành lập ngày 18/6/2021, do ông Đặng Cao C1, sinh năm: 1993, địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng làm giám đốc.
  5. Công ty TNHH T4 (Sau đây gọi tắt là Công ty T4), địa chỉ: Lô A, khu H, C, C, Quảng Ninh thành lập ngày 30/12/2014, do Đoàn Văn C, sinh năm: 1986, địa chỉ: Hồ N, A, Hải Phòng làm giám đốc. Ngày 24/3/2022, thay đổi chủ sở hữu Công ty từ Đoàn Văn C sang Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1996, địa chỉ: thôn Đ, xã H, A, Hải Phòng. Ngày 06/10/2023, thay đổi chủ sở hữu Công ty từ Nguyễn Văn T1 sang Phạm Văn T2, sinh năm: 1961, địa chỉ Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
  6. Công ty TNHH T5 (Sau đây gọi là Công ty T5), trụ sở: Tổ 3 (tại nhà bà Đỗ Thị H), TDP Đ, Cát H1, Hải Phòng thành lập ngày 02/12/2019, do bà Phạm Thị H2, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ A khu H, C, C, Quảng Ninh làm giám đốc.

Nguyễn Văn Đ đã giao nộp: 01 dấu tròn Công ty TNHH Đ4, 01 dấu tròn của Công ty TNHH Đ5; 02 miếng đệm cao su mang tên Công ty TNHH X và Công ty TNHH D1; 02 dấu chức danh giám đốc của Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị B1; 02 miếng đệm cao su của giám đốc Đặng Cao C1 và Nguyễn Nhất N; 01 dấu hình vuông, màu đỏ có nội dung: Thửa đất số 143A, tờ bản đồ số 24, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Việt Nam.

Về phương thức hoạt động: Đạt trực tiếp đứng tên, nhờ người thân hoặc mua chứng minh nhân dân, căn cước công dân trên mạng xã hội để thành lập 06 công ty nêu trên vào hoạt động mua bán trái phép hóa đơn. Các công ty đều không có hoạt động sản xuất kinh doanh, không có kho bãi hàng hóa, phương tiện, nhân công. Qua giới thiệu, Đ biết và thuê Nguyễn Thị T3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) làm báo cáo thuế và viết các nội dung hóa đơn. Đối với hóa đơn giấy tại mục thủ trưởng đơn

vị, Đ ký đóng dấu sẵn vào quyển hóa đơn của Công ty Đ4; nhờ Đoàn Văn C ký vào quyển hóa đơn của Công ty X; nhờ Nguyễn Sỹ P ký vào quyển hóa đơn của Công ty D1 và Công ty T5; nhờ Nguyễn Văn T1 ký vào Công ty T4. Sau đó, chuyển cho Nguyễn Thị T3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) viết hóa đơn cho các cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu. Đối với Công ty Đ5 (sử dụng hóa đơn điện tử), Đ đã gửi chữ ký số để T3 quản lý, sử dụng và xuất hóa đơn cho khách hàng. Khi khách hàng có nhu cầu mua hoá đơn sẽ liên hệ với Đ qua ứng dụng viber để thống nhất nội dung ghi trên hóa đơn. Sau đó, Đ chuyển các thông tin này cho T3 để xuất hóa đơn và chuyển đến địa chỉ theo yêu cầu của khách hàng.

Việc chuyển tiền nhằm hợp thức hóa hoạt động mua bán trái phép hóa đơn: Đối với các khách hàng sử dụng tiền của Đ, Đ trực tiếp hoặc nhờ Nguyễn Sỹ P, Đoàn Văn C, Nguyễn Văn T1 nộp tiền vào tài khoản cá nhân của khách hàng, sau đó công ty khách hàng chuyển tiền thanh toán theo hoá đơn vào các tài khoản của 06 công ty trên. Đối với các khách hàng tự chuyển tiền thanh toán theo hoá đơn vào các tài khoản của 06 công ty, Đ trực tiếp hoặc nhờ P, C, T1 rút tiền hoặc chuyển tiền sang tài khoản cá nhân của Đ, sau đó Đ chuyển trả lại vào tài khoản cá nhân cho khách.

Về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ mua vào của 06 Công ty nêu trên: Căn cứ tài liệu xác minh tại Cục thuế thành phố H, Chi cục thuế khu vực V, Thái Bình, Cục thuế tỉnh Q xác định: Tổng chi phí hoá đơn mua vào của 06 công ty nêu trên là 596.300.458.513 đồng; trong đó: Công ty Đ4 là 72.543.579.574 đồng, Công ty X là 138.782.895.505 đồng, Công ty Đ5 là 305.161.510.456 đồng, Công ty D1 là 28.056.370.514 đồng, Công ty T4 là 13.690.572.100 đồng, Công ty T5 là 38.065.530.364 đồng. Đ khai đã mua hóa đơn đầu vào của một số đối tượng trên mạng xã hội Facebook (không nhớ tên tài khoản) với giá 0,7% tiền hàng hóa khống ghi trên hóa đơn, tổng số tiền là 4.174.103.210 đồng để cân đối với lượng hóa đơn đã bán trái phép. Tuy nhiên do thời gian đã lâu, chứng từ bị thất lạc nên Đ không nhớ chính xác đã mua hóa đơn trái phép của những doanh nghiệp nào.

Về việc bán trái phép hóa đơn: Từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 3 năm 2023, Đ đã bán trái phép 2.405 số hóa đơn của 06 công ty nêu trên với tổng doanh số là 586.836.935.809 đồng, với giá bán trung bình 0,8% giá trị ghi trên hóa đơn (chưa tính thuế VAT 10%), Đ thu được 4.694.695.486 đồng. Cụ thể: Công ty Đ4 bán 220 số hóa đơn, tổng doanh số bán ra là 73.064.229.530 đồng. Công ty X bán 1.153 số hóa đơn, tổng doanh số bán ra là 139.749.399.304 đồng. Công ty Đ5 bán 411 số hóa đơn, tổng doanh số là 297.374.463.090 đồng. Công ty D1 bán 446 số hóa đơn, tổng doanh số bán ra là 28.150.263.700 đồng. Công ty T4 bán 16 số hóa đơn, bán ra tổng doanh số là 10.068.564.000 đồng. Công ty T5 bán 159 số hóa đơn, tổng doanh số bán ra là 38.430.016.185 đồng.

Đối với khoản tiền 0,8% phí bán hóa đơn, Đ sẽ tổng hợp với khách một lượng nhất định, sau đó gặp khách hàng để lấy tiền trực tiếp, một số ít lần nhận chuyển qua tài khoản cá nhân. Khách mua trái phép hóa đơn của Đ là Mạc Thị L,

sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ H khu T, C, C, Quảng Ninh; Nguyễn Thị N1, sinh năm 1981, địa chỉ: Số B đường số B, thôn T, L, Đ, Hà Nội và một số cá nhân trung gian khác nhưng Đ không nhớ tên tuổi, địa chỉ.

Về số tiền Nguyễn Văn Đ thu lợi bất chính từ việc bán trái phép hóa đơn: Đạt thu được 520.592.277 đồng từ việc mua bán trái phép hóa đơn. Đ đã chi tiền thuế nộp cho Nhà nước là 264.077.287 đồng; Chi tiền in hóa đơn là 18.000.000 đồng. Như vậy, Nguyễn Văn Đ thu lợi bất chính là 238.514.990 đồng.

Xác minh, thu thập tài liệu tại các ngân hàng về các tài khoản của 06 công ty nêu trên và tài khoản cá nhân của Đ kết quả: Xác định nhiều lần các công ty thực hiện việc chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng nhằm hợp thức hóa việc mua bán trái phép hóa đơn. Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Sỹ P, Đoàn Văn C, Nguyễn Văn T1 nhiều lần rút, chuyển tiền từ tài khoản của 06 công ty nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, ngoài ra Đ còn khai: Nguyễn Thị B2 là vợ của Nguyễn Văn Đ, Đ mượn căn cước công dân của B2 nói là mượn để làm ăn và đưa B2 lên Ngân hàng A - P2 để mở tài khoản số 1987238238 mang tên Công ty Đ5. Sau đó, tất cả con dấu, tài khoản ngân hàng, hồ sơ, tài liệu của Công ty Đ5 do Đ quản lý, sử dụng. Bưởi không biết, không tham gia hoạt động gì của Công ty Đ5, không biết Đ mua bán trái phép hóa đơn. Đoàn Văn C, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ P là bạn của Đ, Đ đã nhờ C đứng tên giám đốc, ký một số giấy tờ và rút tiền từ tài khoản của các Công ty T4, Bạch Đ3; Đ nhờ T1 đứng tên giám đốc, ký một số giấy tờ và rút tiền từ tài khoản của Công ty T4; Đ nhờ Nguyễn Sỹ P rút tiền từ tài khoản của các Công ty Cao Cường và Tổng Nam H3. Đ không nói cho C, T1, P biết việc Đ mua bán trái phép hóa đơn.

Đối với những người đứng tên giám đốc cho các công ty của Đ, kết quả điều tra, xác minh như sau:

  • Triệu tập Vũ Đình D, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương - người đứng tên giám đốc Công ty Đ4 hiện nay và Ngô Văn M, sinh năm 1964, địa chỉ: Số A Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng - người bán Công ty Quốc Đạt cho Đ); Nguyễn Nhất N, sinh năm 1982, địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang - người đứng tên giám đốc Công ty X; Phạm Thị H2, sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - người đứng tên giám đốc Công ty T5; Phạm Văn T2, Sinh năm 1961, địa chỉ: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh - người đứng tên giám đốc Công ty T4: cả 05 đối tượng trên đã vắng mặt khỏi địa phương từ đầu năm 2023, hiện nay gia đình và địa phương không biết những đối tượng này đang làm gì, ở đâu và không liên lạc được.
  • Đặng Cao C1, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng - người đứng tên giám đốc Công ty D1 khai: Từ năm 2017 đến nay C1 mắc bệnh tâm thần nên không biết ai đã mạo danh C1 để thành lập và điều hành hoạt động của Công ty D1. C1 không biết, không liên lạc với Nguyễn Văn Đ.

Đối với các công ty đã sử dụng hóa đơn của 06 công ty nêu trên, kết quả điều tra, xác minh như sau:

Căn cứ tài liệu cơ quan thuế và thống kê tài liệu ngân hàng liên quan, xác định có 36 doanh nghiệp đã kê khai, sử dụng hóa đơn của các công ty của Nguyễn Văn Đ

  • Xác minh một số doanh nghiệp có dấu hiệu mua trái phép hóa đơn Công ty Đ5 tại Quảng Ninh: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã khởi tố vụ án hình sự về Tội mua bán trái phép hóa đơn và khởi tố bị can đối với Mạc Thị L - Giám đốc Công ty cổ phần Đ6 thiết bị mỏ về hành vi mua bán trái phép 68 số hóa đơn GTGT của Công ty Đ5; khởi tố bị can đối với Cao Minh P1, Sinh năm: 1989, địa chỉ: Tổ H khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - Giám đốc Công ty CP T6 về hành vi mua bán trái phép 42 số hóa đơn giữa Công ty TNHH V1 với Công ty Đ5 và 91 số hóa đơn của Công ty TNHH V1 với Công ty CP T6.
  • Xác minh tại Công ty CP C2: Vào năm 2022, Công ty C2 nhận thi công san lấp làm mặt bằng dự án xi măng Xuân Thành line 3, quá trình thi công có anh K (không rõ họ, tuổi, địa chỉ) tự giới thiệu là nhân viên Công ty Đ5 và đưa ra giá thi công san lấp hợp lý, máy móc, phương tiện đầy đủ nên Công ty C2 tiến hành ký hợp đồng thuê Công ty Đ5. Khi nghiệm thu công trình thấy đạt yêu cầu, anh K đã nộp 01 hóa đơn GTGT số 31 ngày 04/10/2022 của Công ty Đ5, giá trị hóa đơn là 1.586.812.500 đồng và bộ hợp đồng, chứng từ kèm theo. Công ty C2 không mua trái phép hóa đơn và cũng không quen biết Nguyễn Văn Đ.
  • Nguyễn Thị N1 - Giám đốc Công ty CP D2 và Doanh nghiệp tư nhân H4, khai nhận đã mua trái phép hóa đơn của Nguyễn Văn Đ cho Công ty D2, Doanh nghiệp tư nhân H4 và Công ty TNHH T5 (N1 nhờ anh ruột là Nguyễn Đình N2 đứng tên giám đốc). N1 khai mục đích là để cân đối với lượng hóa đơn Nguyệt bán trái phép cho nhiều doanh nghiệp khác nhưng hiện nay N1 không nhớ đã bán cho cá nhân, tổ chức nào, với giá bao nhiêu tiền. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tách hành vi và thụ lý giải quyết nguồn tin về tội phạm này để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Đối với 27/36 doanh nghiệp đầu ra có đăng ký trụ sở tại Quảng Ninh: Nguyễn Văn Đ khai đã bán trái phép hóa đơn. Cơ quan Cảnh sat điều tra – Công an thành phố H đã chuyển thông tin, tài liệu có liên quan đến 27 doanh nghiệp này đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Còn 05/36 doanh nghiệp đã tiến hành triệu tập người đại diện theo pháp luật và gửi Yêu cầu cung cấp tài liệu nhưng đến nay những cá nhân, tổ chức này chưa có mặt tại cơ quan điều tra để làm việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H tiến hành tách hồ sơ, tài liệu để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã thu giữ của Đ: 01 dấu tròn Cô ng ty TNHH Đầu tư thương mại xây dựng vận tải Q, 01 dấu tròn của Công ty TNHH Đ5; 02 miếng đệm cao su mang tên Công ty TNHH X và Công ty TNHH D1; 02 dấu chức danh giám đốc của Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị B1; 02 miếng đệm cao su của giám đốc Đặng Cao C1 và Nguyễn Nhất N; 01 dấu hình vuông, màu đỏ có nội dung: Thửa đất số 143A, tờ bản đồ số 24, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Việt Nam; Số tiền 96.000.000 đồng. Chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 152/CT-VKS-P1 ngày 05/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại điểm d, đ Khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phạm Thị B1, Đoàn Văn C, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Sỹ P và những người đứng tên Giám đốc các công ty của Đ, chưa có căn cứ xác định các đối tượng đồng phạm với Nguyễn Văn Đ về Tội mua bán trái phép hóa đơn nên chưa đủ căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị T3 là người Đạt thuê kê khai báo cáo thuế, ghi khống hóa đơn... tài liệu điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ cùng hành vi của Nguyễn Thị N1.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm d và đ Khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt tiền : Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 220.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.

Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ nộp lại số tiền 238.514.990 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 dấu tròn Công ty TNHH Đ4, 01 dấu tròn của Công ty TNHH Đ5; 02 miếng đệm cao su mang tên Công ty TNHH X và Công ty TNHH D1; 02 dấu chức danh giám đốc của Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị B1; 02 miếng đệm cao su của giám đốc Đặng Cao C1 và Nguyễn Nhất N; 01 dấu hình vuông, màu đỏ có nội dung: Thửa đất số 143A, tờ bản đồ số 24, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Việt Nam;

Tiếp tục tạm giữ số tiền 455.000.000 đồng của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở xác định: Từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 3 năm 2023, Nguyễn Văn Đ đã trực tiếp, nhờ người thân hoặc mua chứng minh nhân dân, căn cước công dân trên mạng xã hội để thành lập 06 công ty gồm: Công ty TNHH Đ4, Công ty TNHH X, Công ty TNHH Đ5, Công ty TNHH D1, Công ty TNHH T4, Công ty TNHH T5, không có hoạt động sản xuất kinh doanh, không có kho bãi hàng hóa, phương tiện, nhân công để bán trái phép 2.405 số hóa đơn với tổng doanh số hàng hóa khống ghi trên hóa đơn là 586.836.935.809 đồng, với giá bán trung bình 0,8% giá trị hóa đơn (chưa tính thuế VAT 10%), thu lợi bất chính 238.514.990 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của Nhà nước. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội mà mỗi lần đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú và nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nên bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về quyết định hình phạt:

Xét, nhân thân bị cáo Nguyễn Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra tự thú. Mặc khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có thu nhập ổn định, số tiền thu lợi bất chính của bị cáo đã được khắc phục toàn bộ; bị cáo đã chứng minh có đủ điều kiện để được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Chính vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền theo đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ tác dụng phòng ngừa chung, giáo dục và răn đe đối với bị cáo.

[7] Về thu lợi bất chính: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, bị cáo thu lợi số tiền 238.514.990 đồng. Xét, đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 dấu tròn Cô ng ty TNHH Đầu tư thương mại xây dựng vận tải Q, 01 dấu tròn của Công ty TNHH Đ5; 02 miếng đệm cao su mang tên Công ty TNHH X và Công ty TNHH D1; 02 dấu chức danh giám đốc của Nguyễn Văn Đ và Phạm Thị B1; 02 miếng đệm cao su của giám đốc Đặng Cao C1 và Nguyễn Nhất N; 01 dấu hình vuông, màu đỏ có nội dung: Thửa đất số 143A, tờ bản đồ số 24, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Việt Nam đều liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Đối với số tiền 455.000.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả và chứng minh khả năng chấp hành hình phạt chính là hình phạt tiền cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về các vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ vai trò, trách nhiệm những người đứng tên giám đốc, kế toán và những người liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm d, đ Khoản 2 Điều 203; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn Đ 220.000.000 đồng.
  • - Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ
  • - Về tiền thu lợi bất chính: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ nộp lại số tiền 238.514.990 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 dấu tròn màu đỏ, bên trên nắp có ghi tên “Công ty TNHH Đ4”; 01 dấu tròn màu đỏ, bên trên nắp có ghi tên “Công ty TNHH Đ5”; 02 miếng đệm cao su mang tên Công ty TNHH X và Công ty TNHH D1; 02 miếng đệm cao su của giám đốc Đặng Cao C1 và Nguyễn Nhất N; 02 dấu chức danh “Giám đốc Nguyễn Văn Đ”, “Giám đốc Phạm Thị B1”; 01 dấu hình chữ nhật, màu đỏ có nội dung: Thửa đất số 143A, tờ bản đồ số 24, thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, Việt Nam.
  • (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
  • Tiếp tục tạm giữ số tiền 455.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn Đ để đảm bảo việc thi hành án.
  • (Theo biên lai thu tiền số 0000274 ngày 22/7/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và theo ủy nhiệm chi ngày 16/5/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra – Công an thành phố H nộp tiền vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
  • - Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về các vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ vai trò, trách nhiệm những người đứng tên giám đốc, kế toán và những người liên quan đến việc rút tiền, chuyển tiền của các công ty liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - UBND xã (nơi BC cư trú);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

  • Số bản án: 188/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ mua bán hóa đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger