|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 188/2023/HS-ST Ngày 05-12-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 711/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Tiến T, sinh ngày 08 tháng 2 năm 1983, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D Lô I Tổ A, phường Đ, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến D và bà Bùi Thị T1; có vợ là Trần Thị K (đã ly hôn) và một con; tiền án, tiền sự: Tại Bản án số 87 ngày 16/11/2018, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2020. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, T chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm và tiền sung công; nhân thân: Tại Bản án số 147 ngày 20/4/1999, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Cướp tài sản của công dân (phạm tội khi 15 tuổi 7 tháng 23 ngày, được coi là không có án tích); Tại Bản án số 232 ngày 15/12/2006, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/01/2009. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, T đã thi hành xong án phí hình sự và các khoản bồi thường dân sự từ 13/9/2007 (đã được xoá án tích); bị bắt giữ từ ngày 23/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 29/7/2023; có mặt.
2. Đào Văn T2, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1995, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn P và bà Đỗ Thị M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Công an huyện T từ ngày 18/9/2023 đối với hành vi Cướp tài sản thực hiện ngày 03/8/2023; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số G L, Cầu Đ, Ngô Q, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Tiến T thường xuyên chơi điện tử tại quán Internet ở số F Nam P, Đ, N, Hải Phòng của anh Nguyễn Mạnh H1 (sinh năm: 1989, nơi thường trú: 07/28 L, Cầu Đ, N, Hải Phòng). T thấy trong quán có 01 con chó phốc sóc màu vàng nâu của anh H1 nên T nảy sinh ý định trộm cắp con chó đem bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 18/7/2023, T đi bộ đến quán Internet với mục đích để trộm cắp chó. Khi đi đến đầu ngõ N P, T gặp bạn xã hội là Đào Văn T2 đang đỗ xe máy Honda Wave màu xanh (Thanh mượn của bạn, chưa xác định được BKS và chủ sở hữu), T bảo T2 đứng đợi T ở đầu ngõ cảnh giới để T đi bộ vào trộm cắp 01 con chó. T2 đồng ý. T đi bộ vào bên trong ngõ N P thì gặp bạn là anh Nguyễn Đức K1 (sinh năm: 1986, nơi cư trú: 8/293 L, Đ, N, Hải Phòng). T hỏi K1 đi đâu, K1 trả lời “em đi về” rồi K1 đi đến quán I tại ngõ B L, N, Hải Phòng chơi điện tử, còn T đi vào quán Internet trên của anh H1. Quan sát thấy có 01 con chó phốc sóc đang bị xích vào tường ở sân, không có ai trông coi để ý, T liền tháo xích ở đinh đóng trên tường rồi ôm con chó phốc cùng dây xích đi ra đầu ngõ N P, ngồi lên xe máy bảo T2 chở đến khu vực chợ V, Ngô Q, Hải Phòng để bán chó. Trên đường đi, T gọi điện cho bạn là anh Nguyễn Giang S (sinh năm: 1990, nơi cư trú: 31C A9 CT6 T3 Vạn Mỹ, N, Hải Phòng) nói có con chó phốc muốn bán với giá 1.000.000 đồng. S bảo T mang đến nhà để S xem. T bảo T2 đỗ xe ở cổng chợ V, Ngô Q, Hải Phòng, còn T mang chó vào cho S xem. S hỏi T con chó này ở đâu. T nói chó của T, do cần tiền gấp nên mới bán. Sau khi xem chó thì S đồng ý mua với giá 1.000.000 đồng. Do không đủ tiền nên S trả trước 130.000 đồng, số tiền còn lại sẽ trả sau. T đồng ý. Sau đó, T và Thanh đi về quán nước gần khu vực Cầu R uống
nước. T gọi anh K1 ra uống nước cùng khoảng 30 phút rồi đi về. Số tiền bán được con chó phốc, T chi tiêu cá nhân một mình.
Ngày 20/7/2023, anh Nguyễn Mạnh H1 đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Ngày 23/7/2023, Lê Tiến T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đầu thú.
Đào Văn T2 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội Cướp giật tài sản xảy ra tại địa bàn xã T, huyện T, Hải Phòng, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam từ ngày 18/9/2023. Làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, Đào Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng thu giữ: Anh Nguyễn Giang S tự nguyện giao nộp 01 con chó phốc sóc, màu lông vàng nâu, nặng 2,6 kg.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận N: 01 con chó phốc sóc màu nâu vàng, cân nặng 2,6kg, đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 2.400.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 89 ngày 30/7/2023, trả lại 01 con chó phốc sóc, màu lông nâu vàng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Mạnh H1.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Mạnh H1 đã nhận được tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với số tiền 130.000 đồng mua chó, anh Nguyễn Giang S không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản Cáo trạng số 192/CT-VKSNQ ngày 10/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Lê Tiến T, Đào Văn T2 về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị hại anh Nguyễn Mạnh H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố lời khai, thể hiện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Đối với số tiền 130.000 đồng mua chó, anh Nguyễn Giang S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 38; 17; 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Tiến T mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; các điều 38; 17; 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn T2 mức án từ 09 đến 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định và tài sản riêng. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo Lê Tiến T, Đào Văn T2 tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị hại, Kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Khoảng 3 giờ 45 phút ngày 18/7/2023, tại quán Internet ở số F Nam P, Đ, N, Hải Phòng, bị cáo Lê Tiến T và Đào Văn T2 cùng thống nhất thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 con chó phốc sóc màu vàng nâu, trị giá 2.400.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh H1.
[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Tiến T và Đào Văn T2 đồng phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173; Điều 17 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Tiến T đã có 01 tiền án năm 2018 chưa được xoá án tích vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T2 “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; bố của bị cáo là thương binh hạng A vì vậy bị cáo T2 được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò phạm tội của các bị cáo:
[7] Bị cáo Lê Tiến T là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp và là người trực tiếp liên hệ để tiêu thụ tài sản trộm cắp. Vì vậy bị cáo T là người giữ vai trò chính trong đồng phạm. Bị cáo Đào Văn T2 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức, cụ thể: Trở bị cáo T đi thực hiện hành vi trộm cắp, canh chừng cho bị cáo T khi Trung thực hiện hành vi trộm cắp, trở bị cáo T đi tiêu thụ tài sản trộm cắp; vì vậy vai trò của bị cáo T2 là thứ yếu trong đồng phạm.
- Về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
[8] Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo T đã có 01 tiền án chưa được xoá án tích, ngoài ra bị cáo còn có 02 tiền án mặc dù đã được xoá án tích và không coi là có án tích nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo T2 mặc dù nhân thân chưa có tiền án tiền sự, nhưng ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản bị cáo lại bị bắt giam khởi tố về hành vi phạm tội khác. Như vậy cần đánh giá các bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém, cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Các bị cáo không có công việc và thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
[10] 01 con chó phốc sóc, màu nâu, nặng 2,6 kg đã được trả lại cho bị hại anh Nguyễn Mạnh H1. Anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với số tiền 130.000 đồng mua chó, anh Nguyễn Giang S không yêu cầu bồi thường. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với vật chứng và trách nhiệm dân sự.
- Về án phí:
[11] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 38, 17, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Tiến T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; các điều 38, 17, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đào Văn T2 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- - Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Lê Tiến T và Đào Văn T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo đối với bản án:
- Các bị cáo Lê Tiến T, Đào Văn T2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị hại anh Nguyễn Mạnh H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 188/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 188/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trung Thanh
