Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2023/HS-ST

Ngày 02 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư

Bà Nguyễn Thị Vượng

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Chu Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2023/QĐXXST- HS ngày 18/10/2023 đối với bị cáo:

Hà Văn T, sinh năm 1995; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 9/12. Con ông: Hà Văn T1, sinh năm 1967. Con bà: Hoàng Thị D, sinh năm 1971. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ ba. Vợ: Hà Thu O, sinh năm 2000. Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Hà Văn T1, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

- Anh Lò Văn T2, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Bản P, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên.

- Anh Trần Quang T3, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hà Văn T, sinh năm 1995, trú tại thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm công nhân xây dựng nhà xưởng ở khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2023, Hà Văn T làm việc tại công trình xây dựng nhà xưởng ở khu công nghiệp V, huyện V thì gặp Lò Văn T2, sinh năm 1984 ở xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên cũng là công nhân làm việc ở gần đó. Anh T2 nhờ T chở đi mua thuốc để chữa bệnh do anh T2 bị ốm. Lúc này, T cũng muốn đi đến thành phố B để chuộc chiếc điện thoại mà Tiếp đã cầm cố trước đó nên đồng ý chở anh T2 đi mua thuốc uống. Sau đó, anh T2 bảo anh Hà Văn T4, sinh năm 1980, trú tại thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ thầu xây dựng cho tạm ứng trước 200.000 đồng để mua thuốc uống thì anh T4 đồng ý. Do anh T4 không có tiền mặt tiền và anh T2 không sử dụng tài khoản ngân hàng nên anh T2 nhờ anh T4 chuyển khoản tiền vào tài khoản ngân hàng của T rồi sẽ ra cây ATM để rút tiền. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS 98M1-004.32 chở anh T2 đi đến một cửa hàng điện thoại ở khu vực tổ B, phường M và chuộc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X mà Tiếp đã cắm trước đó. Sau khi chuộc điện thoại, T nảy sinh ý định đi mua ma túy để sử dụng nhưng không nói cho anh T2 biết. Tiếp điều khiển xe chở anh T2 đi vào trong xóm C, phường M, thành phố B. Tiếp dừng xe ở trong ngõ rồi đi bộ vào một đoạn gần khu vực đường bờ đê, cách khoảng 10 mét còn anh T2 đứng chờ. Tiếp đi vào gặp một người phụ nữ không quen biết, đeo khẩu trang. Tiếp hỏi mua ma túy heroin và đưa cho người phụ nữ này 200.000 đồng. Người phụ nữ cầm tiền và đưa cho T 01 gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc bên trong có ma túy heroin. Tiếp cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi quay lại vị trí anh T2 đang đứng đợi. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở anh T2 đi theo đường 295B hứng về huyện V. Khi T đi đến trước cửa số nhà A, đường B, xã T, thành phố B thì bị Công an xã T phối hợp với Công an phường M yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tiếp sợ bị phát hiện nên thả gói ma túy đang cầm trên tay để gói ma túy rơi xuống đất nhưng đã bị phát hiện và thu giữ. Công an xã T đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Hà Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại chỗ gồm:

  • - 01 gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, thu giữ dưới nền đất cạnh đường B, thuộc địa phận thôn M, xã T gần vị trí Tiếp đang đứng được cho vào trong một phong bì thư dán kín niêm phong tại chỗ.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số seri F2LVQY7JCLF, mặt lưng bị vỡ.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 98M1-004.32

Công an xã T đã bàn giao Hà Văn T và tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

2

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma túy đã thu giữ của Hà Văn T. Kết luận giám định số 1169/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 (một) phong bì đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:

Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,141 gam, loại Heroine.

Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 23/6/2023 của Công an thành phố B có kết quả Hà Văn T dương tính với ma túy MOR.

Quá trình điều tra, Hà Văn T khai nhận mua 01 gói ma túy heroin mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Ngoài ra, T khai vào ngày 20/6/2023 có mua 01 gói ma tuý với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu cầu sắt thuộc phường M, thành phố B và đã sử dụng hết. Công an thành phố ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.

Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định chiếc xe mô tô biển số 98M1-004.32 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hà Văn T1, sinh năm 1967 ở xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang là bố Hà Văn T cho T mượn để đi lại; ông T1 không biết T mượn để sử dụng đi mua ma túy.

Vật chứng của vụ án: Xe mô tô biển số 98M1-004.32; chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X và 01 phong bì thư đựng ma túy hoàn lại sau giám định được Cơ quan điều tra đã nhập vật chứng để xử lý theo quy định.

Đối với Lò Văn T2 đi cùng Hà Văn T nhưng không bàn bạc với T đi mua ma túy; không biết T mua ma tuý để sử dụng nên Cơ quan điều tra không xử lý. Phiếu xét nghiệm ngày 23/6/2023 của Công an thành phố B đối với Lò Văn T2 có kết quả âm tính với ma túy MOR.

Đối với người phụ nữ mà Hà Văn T khai bán ma túy. Theo T khai không biết thông tin và địa chỉ của người phụ nữ này nên không làm rõ được.

Bản cáo trạng số 200/CT-VKS ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

Đại diện Viện sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm

3

nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • - Xử phạt bị cáo Hà Văn T 5 tháng tù đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • * Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định để tiêu hủy. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số seri F2LVQY7JCLF, mặt lưng bị vỡ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Trả lại ông Hà Văn T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 98M1-004.32.
  • * Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy sự vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

4

[3]. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/6/2023, tại khu vực trước cửa số nhà A, đường B, thôn M, xã T, thành phố B, Tổ công tác Công an xã T, thành phố B bắt quả tang Hà Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, kết quả giám định là ma túy Heroine có khối lượng 0,141 gam. Tiếp khai mua gói ma tuý trên mục đích để sử dụng cá nhân.

Hành vi tàng trữ ma túy bất hợp pháp của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Xét về nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã không nhận thức được việc làm của mình mà lại phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là chất gây nghiện làm băng hoại sức khoẻ của con người và cũng chính từ ma tuý dẫn đến nhiều loại tội phạm khác phát sinh. Vì vậy cần có một mức án là hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện để nộp phạt bổ sung bằng tiền, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8]. Về nguồn gốc ma túy bị cáo T khai được một người phụ nữ, T6 biết thông tin và địa chỉ của người phụ nữ bán ma túy cho mình, nên không có căn cứ xác minh, xử lý đối với người bán ma túy cho T.

[9]. Quá trình điều tra, Hà Văn T còn khai nhận vào ngày 20/6/2023 có mua 01 gói ma tuý với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu cầu sắt thuộc phường M, thành phố B và đã sử dụng hết. Công an thành phố ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý, do vậy không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

5

[10]. Đối với Lò Văn T2 là người đi cùng với Hà Văn T nhưng không bàn bạc với T đi mua ma túy, không biết T mua ma tuý để sử dụng. Phiếu xét nghiệm ngày 23/6/2023 của Công an thành phố B đối với Lò Văn T2 có kết quả âm tính với ma túy MOR, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T2 là có căn cứ.

[11]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hà Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định chiếc xe mô tô biển số 98M1-004.32 thuộc sở hữu hợp pháp của ông T1 là bố của Hà Văn T cho T mượn để làm phương tiện đi lại, ông T1 không biết việc T sử dụng xe để đi mua ma túy. Nay cần trả lại chiếc xe mô tô biển số 98M1-004.32 cho ông T1.

[12]. Vật chứng của vụ án: Gồm 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số seri F2LVQY7JCLF, mặt lưng bị vỡ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[13]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[14]. Tại phiên tòa, Đại diện Viện sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên tòa căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[15]. Về quyền kháng cáo căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • 1. Xử phạt bị cáo Hà Văn Tiếp 01 (Một) năm 02 (Hai) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • 2. Vật chứng của vụ án:
  • - Tịch thu 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định để tiêu hủy. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số seri

F2LVQY7JCLF, mặt lưng bị vỡ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại ông Hà Văn T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 98M1-004.32

3. Về án phí bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã Mỹ Thái, Lạng Giang Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 188/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger