|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2025/HS-ST
Ngày: 25/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Có
- Ông Phạm Văn Bình
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 164/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
TRỊNH ĐÌNH NGHĨA (giới tính: Nam)
– sinh ngày: 30/8/1984 tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ A, phường T, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tích: Việt nam; Con ông Trịnh Đình H– sinh năm: 1954 và bà Phạm Thị H1(đã chết), có vợ là Đinh Thị L– sinh năm: 1985 và 01 con sinh năm 2024.
Tiền án: 02.
- Bản án số 140/2007/HS-ST ngày 12/7/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/6/2012. Đã đóng án phí 50.000 đồng. Chưa thi hành án phần bồi thường dân sự 3.000.000 đồng.
- Bản án số 71/2014/HS-PT ngày 14/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2021. Chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và chưa chấp hành hình phạt bổ sung phạt tiền 10.000.000 đồng.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định khởi tố bị can số 32/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N6(cũ) đối với Trịnh Đình N tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo N1 bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Khu vực N Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh K
Bị hại: Lee Y– sinh năm: 1995 (du khách Hàn Quốc). Vắng mặt
Người làm chứng: Ông Đỗ Văn S– sinh năm: 2000; địa chỉ: A, phường N, Khánh Hòa. Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N1sinh năm: 1973; địa chỉ: TDP P, phường N, Khánh Hòa. Vắng mặt
- Ông Lê Nhật D– sinh năm: 1997; địa chỉ: Thôn D, xã D, Khánh Hòa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Trịnh Đình N2 khiển xe máy đi lòng vòng trên các tuyến khu vực phường T, thành phố N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòađể tìm khách du lịch sơ hở tài sản để cướp giật. Khoảng 14 giờ 25 phút, ngày 21/3/2025, Tổ công tác Công an phường T(cũ) tiến hành tuần tra, kiểm tra đến trước nhà số A đường N, phường T, thành phố N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòathì phát hiện N2 khiển xe máy Yamaha Sirius RC màu đen biển kiểm soát 79D1-434.74 áp sát dùng tay giật 01 (một) điện thoại Iphone 14 pro màu trắng của chị Lee Y(quốc tịch Hàn Quốc) đang đi bộ cùng anh Yu M tăng ga bỏ chạy. Tổ công tác truy đuổi khoảng 100m đến ngã tư đường N - T, phường T(cũ) thì bắt giữ được Nvà chiếc điện thoại Nvừa giật được rồi đưa Nvề Công an phường T(cũ) để làm việc. Tại Cơ quan Công an, N3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2025, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận: điện thoại di động loại Iphone 14 pro màu trắng, dung lượng 256GB, số IMEI 357170548550862 là 14.299.000₫ (Mười bốn triệu hai trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Quá trình điều tra, truy tố, bị can Trịnh Đình N3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động loại Iphone 14 pro màu trắng, dung lượng 256GB: Đã trả chủ sở hữu Lee Yeonju.
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Sirius RC màu đen gắn số máy: E3T6E233112, số khung: RLCUE1710HY158866: Bà Nguyễn Thị N1bị mất trộm xe máy ngày 11/12/2024 tại khu vực vỉa hè ngã ba đường P - H, phường B, tỉnh Khánh nhưngkhông đến Cơ quan Công an trình báo. Xét thấy, địa điểm ban đầu xảy ra vụ việc mất trộm xe máy của bà N1thuộc địa bàn phường Bngày 21/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đến xe máy đến Công an phường B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền;
- 01 (một) biển kiểm soát 79D1-434.74: Ông Lê Nhật D1 mất biển khoảng tháng 02/2025, đã làm thủ tục xin cấp biển số mới nên không có yêu cầu nhận lại biển số.
Về phần dân sự: Ngày 08/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiến hành Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự số 7682/YCTPHS-CSĐT-VP(Đ2) yêu cầu Bộ Tư pháp nước Đại Hàn Dân Quốc làm rõ yêu cầu bồi thường dân sự, yêu cầu đối với tài sản bị cướp giật trong vụ án đến nay chưa có kết quả trả lời.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKSKV1 ngày 29/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Trịnh Đình N4 tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Đình N4 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa.
Về trách nhiệm dân sự: Tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi bị hại có yêu cầu.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 79D1-434.74.
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Trịnh Đình N4 phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi bị cáo dùng xe mô tô áp sát, giật tài sản của người bị hại là rất nguy hiểm có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người bị hại, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không sử dụng sức lao động của mình để làm việc chân chính nuôi sống bản thân mà lại đi cướp giật tài sản của người khác. Bị cáo có 02 tiền án và nhân thân xấu nên mức hình phạt của bị cáo sẽ bị Hội đồng xét xử xử phạt nghiêm khắc để tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã trả lại cho bị hại, nên Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 08/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiến hành Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự số 7682/YCTPHS-CSĐT-VP(Đ2) yêu cầu Bộ Tư pháp nước Đại Hàn Dân Quốc làm rõ yêu cầu bồi thường dân sự, yêu cầu đối với tài sản bị cướp giật trong vụ án đến nay chưa có kết quả trả lời nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi bị hại có yêu cầu
[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 79D1-434.74.
Đối với xe máy hiệu Yamaha Sirius RC màu đen gắn số máy: E3T6E233112, số khung: RLCUE1710HY158866: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đến xe máy đến Công an phường B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trịnh Đình N4 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Đình N4.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đình N4 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù của Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 28/8/2025 do Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa xét xử bị cáo N tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy bị báo Trịnh Đình N5 thi hành hình phạt 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/3/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi bị hại có yêu cầu
Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 79D1-434.74.
Chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đối với xe máy hiệu Yamaha Sirius RC màu đen gắn số máy: E3T6E233112, số khung: RLCUE1710HY158866 đến Công an phường B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trịnh Đình N4 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Vũ L1 |
Bản án số 188/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 188/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS
