|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 188/2024/KDTM-ST Ngày 05/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa
2. Ông Nguyễn Đình Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 30 tháng 7 năm 2024 và ngày 05/8/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2023/TLST-KDTM ngày 28/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2024/QĐXXST-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH T2, địa chỉ: Tầng A Khu V tòa nhà I, D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1982, Chức danh: Giám đốc. (Có mặt)
Bị đơn: Công ty Cổ phần T3, địa chỉ: Tầng B, A - A X, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; là bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Đình T1, sinh năm 1975 (Theo Giấy ủy quyền ngày 16/01/2024) (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án đề ngày 06/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công ty TNHH T2 do bà Nguyễn Thị Thu T là người đại diện hợp pháp trình bày: Công ty TNHH T2 (sau đây gọi tắt là công ty T2) và Công ty Cổ phần T3 (tên cũ là Công ty TNHH T3, sau đây gọi tắt là công ty T3) có ký Hợp đồng thương mại số SIVLC/1412 ngày 14/12/2017 về việc cung cấp giấy Nhật Bản và kính cường lực tại dự án Mariott C. Căn cứ vào điều khoản thanh toán thì ngày 30/01/2018, công ty T3 có trách nhiệm thanh toán giá trị còn lại của Hợp đồng tương đương số tiền là 61.945.978 đồng cho công ty T2.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty T2 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo yêu cầu của công ty T3 nhưng phía Công ty T3 chưa thanh toán đầy đủ theo hợp đồng đã ký. Công ty T2 đã nhiều lần liên hệ nhắc nợ nhưng phí Công ty T3 luôn né tránh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Ngày 23/8/2023, công ty T2 có gửi giấy đề nghị thanh toán yêu cầu công ty T3 thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng là 61.945.978 đồng và lãi chậm trả tính đến ngày 23/8/2023 theo mức lãi suất 10%/năm tương đương số tiền là 34.070.287 đồng nhưng phía bị đơn vẫn không có bất kỳ phản hồi gì.
Việc công ty T3 không thanh toán công nợ quá hạn đã làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy công ty T2 khởi kiện yêu cầu Công ty T3 trả cho nguyên đơn số tiền nợ là 96.016.265 đồng trong đó nợ gốc là 61.945.978 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 26/11/2018 đến ngày 23/8/2023 theo mức lãi suất 10%/năm là 34.070.287 đồng.
Bị đơn Thương mại Dịch vụ Sản xuất Xây dựng Trang trí nội thất T3 do ông Lê Đình T1 làm đại diện ủy quyền vắng mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay,
Bà Nguyễn Thị Thu T là người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn trình bày: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu như đơn khởi kiện.
Bị đơn Công ty T3 vắng mặt không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.
- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa. Mặc dù Tòa án có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử tuy nhiên việc vi phạm không làm thay đổi bản chất vụ án, không ảnh hưởng đến tính khách quan khi giải quyết vụ án nên đề nghị rút kinh nghiệm.
-Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty T2 khởi kiện công ty T3 yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo hợp đồng đã ký giữa hai bên, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn có trụ sở tại quận T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có cử đại diện ủy quyền đến Tòa án, tuy nhiên sau đó vắng mặt, không đến Tòa án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 61.945.978 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, nguyên đơn có gửi bản chính hợp đồng cho công ty L. Tuy nhiên bị đơn công ty L không ký xác nhận và chưa trả lại bản chính hợp đồng trên cho nguyên đơn. Theo nguyên đơn, tất cả các giao dịch thỏa thuận giữa hai bên đều tiến hành trao đổi qua điện thoại và qua email nên không có bản chính chỉ có bản photo.
Tuy nhiên căn cứ vào đơn đặt hàng ngày 14/12/2017 có xác nhận của bị đơn, các email trao đổi giữa hai công ty và ngày 19/12/2017, bị đơn đã chuyển khoản số tiền tạm ứng theo hợp đồng đã thỏa thuận là 51.621.648 đồng cho nguyên đơn và ngày 26/10/2018 nguyên đơn đã thực hiện việc xuất hóa đơn GTGT số tiền 113.567.626 đồng. Như vậy có cơ sở xác định nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên bán. Do hợp đồng mua bán không có chữ ký của bị đơn nên không có cơ sở buộc nguyên đơn phải gửi đủ hồ sơ thanh toán theo quy định. Mặt khác, bị đơn có biết việc khởi kiện này nhưng cũng không có ý kiến phản hồi gì đối với vụ án. Việc bị đơn không thanh toán số tiền còn lại là vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa hai bên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 61.945.978 đồng.
[2.2] Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi chậm thanh toán tính từ ngày 26/11/2018 đến ngày 23/8/2023 theo mức lãi suất 10%/năm với số tiền là 34.070.287 đồng. Căn cứ mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của 3 ngân hàng công bố tại thời điểm tháng 3 năm 2024 là 16,25%/năm (Ngân hàng TMCP N 15,75%/năm, Ngân hàng TMCP C là 18,75 %/năm, Ngân hàng N1 14,25%). Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi suất do chậm thanh toán theo mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định và có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho Nguyên đơn số tiền lãi chậm thanh toán là 34.070.287 đồng.
Như vậy tổng số tiền buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 96.016.265 đồng.
[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 50, 55, 306 Luật Thương mại;
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH T2.
Buộc Công ty Cổ phần T3 thanh toán cho Công ty TNHH T2 số tiền 96.016.265 đồng (chín mươi sáu triệu không trăm mười sáu ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần T3 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 4.800.813 đồng (bốn triệu tám trăm ngàn tám trăm mười ba đồng). Công ty TNHH T2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 (ba triệu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0024363 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy |
Bản án số 188/2024/KDTM-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 188/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
