Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HSST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh.

Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hằng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trực tuyến - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 161/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Quốc H, sinh năm 1987, tại: Hà Nội; HKTT: Số 6 lô 6 Trại G, phường T, quận H, TP. Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Quốc H, sinh năm: 1960; Con bà: Nguyễn Thị Kim N (Đã chết). Bị cáo là con một trong gia đình. Tiền án, tiền sự: 01 (Một) tiền án: Ngày 18/7/2008, Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt 20 (Hai mươi) năm tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Ra trại ngày 18/02/2020. (Chưa được xóa án tích). Danh bản, chỉ bản số 171 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Cầu Giấy lập ngày 02/4/2024; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 27/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Việt A, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

HKTT: Tổ 12, phường N, quận C, TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h15' ngày 27/03/2024, tại khu vực ngã 3 đường Đ - Nguyễn Đình H phường N, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Tổ công tác Công an phường Nghĩa Đô đang làm nhiệm phát hiện Trịnh Quốc H đang dừng đỗ xe mô tô Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 33M1 - 5082 và Hoàng Việt A (sinh năm 1981, Nơi thường trú: Tổ 12 phường N, quận C, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi mua bán trái phép ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an đã thu giữ của H 01 (Một) túi nilon màu trắng bên trong có 01 (Một) gói giấy màu xanh chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, cơ quan Công an còn tạm giữ của H 01 (Một) điện thoại Vsmart màu đen và 01 (Một) xe mô tô Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 33M1 - 5082; tạm giữ của Hoàng Việt A 01 (Một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia 1208 và số tiền 500.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 2416/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói giấy màu xanh có khối lượng: 0,348 gam là ma túy loại Heroin.

Xét nghiệm ma túy đối với Trịnh Quốc H có kết quả dương tính.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Quốc H khai nhận hành vi phạm tội, về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ H khai: Khoảng 11h00' ngày 27/3/2024, H một mình điều khiển xe mô tô Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 33M1-5082 đi đến khu vực ngô chợ Khâm Thiên quận Đống Đa, Hà Nội gặp và mua số ma túy trên của 01 (Một) (Một) nam thanh niên không quen biết với giá 350.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Mua xong, H cất giấu gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về phía khu vực phường Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội. Sau đó, đối tượng Hoàng Việt A điện thoại cho H đặt mua 500.000 đồng ma túy Heroin, H đồng ý và hẹn giao dịch ma túy tại khu vực ngã 3 đường Đông Quan - Nguyễn Đình Hoàn, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội. Đến khoảng 12h15' cùng ngày, H điều khiển xe mô tô trên đến khu vực ngã 3 đường Đông Quan - Nguyễn Đình Hoàn để giao ma túy cho Việt A thì bị Công an phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội phát hiện, kiểm tra, bắt giữ.

Quá trình điều tra: Chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 33M1 - 5082 thuộc sở hữu của bà Trịnh Thị B (Sinh năm: 1954; HKTT: 19B ngõ Trung Phụng. Trung Phụng, Đống Đa, Hà Nội - là bác ruột của Trịnh Quốc H) xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Ngày 20/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy đã trao trả chiếc xe mô tô trên cho bà Bình. Hiện bà Bình đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với Hoàng Việt A mua ma túy của Trịnh Quốc H mục đích để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 (Một) điện thoại Vsmart màu đen và 01 (Một) điện thoại di động màu đen nhân hiệu Nokia 1208 thu giữ của H và Việt A. Quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Cáo trạng số 156/CT-VKSCG ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Trịnh Quốc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trịnh Quốc H, xử phạt bị cáo mức án từ 34 (Ba mươi tư) đến 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong chứa ma túy dân kín mép có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an phường Nghĩa Đô và bị can Trịnh Quốc H;
  • - Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Vsmart Star màu đen thu giữa của bị cáo Trịnh Quốc H; 01 (Một) điện thoại Nokia 1208 màu đen và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của đối tượng Hoàng Việt A dùng để mua ma túy.

Về dân sự: Không.

Tại phiên toà: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Trịnh Quốc H trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12h15' ngày 27/03/2024, tại khu vực ngã 3 đường Đông Quan Nguyễn Đình Hoàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP.Hà Nội, Trịnh Quốc H có hành vi Tàng trữ trái phép 0,348 gam Heroin mục đích để bán kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Quốc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội.

[3] Nhận xét về nhân thân và lượng hình đối với bị cáo: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Tính chất hành vi phạm tội thể hiện: Bị cáo là một người đã trưởng thành nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và cộng đồng, mà lại có hành vi vi phạm có liên quan đến ma túy. Bị cáo là người có nhân thân không tốt, có 01 (Một) tiền án chưa được xóa án tích về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Tại Bản án số 38/2008/HS-ST ngày 18/7/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 20 (Hai mươi) năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/02/2020. Chưa được xóa án tích thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội vào 27/3/2024. Phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Do vậy, thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Đối với Hoàng Việt A mua ma túy của Trịnh Quốc H mục đích để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy nên không đề cập xử lý.

[4] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong chứa ma túy dân kín mép có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an phường Nghĩa Đô và bị can Trịnh Quốc H;
  • - Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Vsmart Star màu đen thu giữa của bị cáo Trịnh Quốc H; 01 (Một) điện thoại Nokia 1208 màu đen và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của đối tượng Hoàng Việt A dùng để liên lạc mua ma túy.

[5] Về dân sự: Không.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
    • - Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trịnh Quốc H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.

    - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong chứa ma túy dân kín mép có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an phường Nghĩa Đô và bị can Trịnh Quốc H;
    • - Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Vsmart Star màu đen thu giữa của bị cáo Trịnh Quốc H; 01 (Một) điện thoại Nokia 1208 màu đen và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của đối tượng Hoàng Việt A dùng để mua ma túy.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 188 GN/THA-CA ngày 09/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 09/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).

  3. Về dân sự: Không.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Bị cáo Trịnh Quốc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
  7. Án xử công khai sơ thẩm.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được công khai niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy,
  • Thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy,
  • Thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP. Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu: Hồ sơ, lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 188/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger