Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS-ST

Ngày 24-6-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung;
  2. Bà Trần Thị Ngọc.

Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc V, sinh năm 1996 tại tỉnh Trà Vinh; thường trú: Số F Khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật Giáo; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Quốc D, sinh năm 1967 và bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1976; bị cáo có 04 anh, chị, em; lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000; bị cáo có vợ tên Dương Thúy V1, sinh năm 1998 và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 30/5/2024, bị Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố bị can số 276/QĐ-ĐCSHS về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Công ty TNHH T2; địa chỉ: Số D, đường B, phường C, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, đường A, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo pháp luật. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  • + Ông Tô Quốc T1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Trần Đại N, sinh năm 1996; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Quốc V không có nghề nghiệp ổn định. Vào cuối tháng 05/2019, do muốn xin làm lái xe Container tại các Công ty kinh doanh dịch vụ vận tải nhưng chưa có bằng lái xe ô tô hạng FC, V đã lên mạng xã hội Facebook vào các trang, nhóm và đăng thông tin cần làm hồ sơ xin việc, bằng lái xe ô tô. Sau đó, V được một đối tượng tự xưng là “Mãi” (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin qua messenger của mạng xã hội Faceboook thoả thuận làm hồ sơ xin việc làm và bằng lái xe ô tô hạng FC giả với giá là 4.500.000 đồng (gồm số tiền làm hồ sơ xin việc giả là 2.000.000 đồng, số tiền làm bằng lái giả là 2.500.000 đồng). Đối tượng “Mãi” yêu cầu V cung cấp ảnh màu của V, V đồng ý và hai bên hẹn nhau ngày hôm sau gặp tại đường Q (gần chân cầu Đ) thuộc phường B, thành phố D để giao 02 tấm ảnh màu này. Sau 03 ngày kể từ ngày V giao ảnh màu, “Mãi” lại tiếp tục hẹn V chỗ gặp lần trước và giao cho V 01 bộ hồ sơ xin việc gồm: 01 (Một) Đơn đề nghị học, thi giấy phép lái xe; 01 (Một) Giấy chứng nhận sức khỏe; 01 (Một) Chứng chỉ nghề; 01 (Một) Biên bản tổng hợp kết quả sách hạch xe ô tô; 01 (Một) Giấy chứng nhận sức khỏe; 01 (Một) Sơ yếu lý lịch; 01 (Một) Đơn xin việc và 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng FC ghi thông tin cá nhân của người tên Tô Quốc T1, sinh ngày 15/12/1991, nơi cư trú: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh và V giao cho “Mãi” số tiền 4.500.000 đồng. Sau khi nhận được bộ hồ sơ xin việc và bằng lái xe giả, V đã đến Công ty TNHH T2 có địa chỉ: Số D, đường B, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để xin việc. V tự nhận mình là Tô Quốc T1 theo như bộ hồ sơ giả mà V cung cấp cho Công ty. Qua tiếp nhận hồ sơ, Công ty kiểm tra thấy đủ điều kiện tuyển dụng nên đã nhận V vào làm tài xế, thời gian thử việc 03 tháng, hết thời gian thử việc Công ty giao xe Container cho V điều khiển để vận chuyển hàng hoá cho công ty và Công ty ký Hợp đồng lao động với V dưới tên theo hồ sơ giả là Tô Quốc T1. Ngày 30/11/2020, V điều khiển xe ô tô đầu kéo mang biển số 51C- 756.64, kéo theo xe sơ mi rơ mooc mang biển số 51R-152.02 của Công ty TNHH T2 lưu thông trên đường N thuộc khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô mang biển số 60F1-976.50 do chị Trương Thị Hằng N1 – sinh năm: 1988, nơi thường trú: Số A, đường N, khu phố L, phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh điều khiển, hậu quả làm chị N1

chết tại hiện trường. Sau tai nạn, V đã bỏ trốn không đến Cơ quan điều tra để làm việc và đã tiêu huỷ bằng lái xe ô tô Hạng FC giả.

Ngày 03/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xác định lỗi gây tai nạn là do nạn nhân nên đã ra Quyết định không khởi tố đối với vụ tai nạn giao thông nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D thu thập được bộ hồ sơ xin việc mà V đã nộp vào Công ty T2 và xác định lái xe có tên Tô Quốc T1 làm việc tại Công ty TNHH T2 trong vụ tai nạn ngày 30/11/2020 chính là Nguyễn Quốc V. Đồng thời qua làm việc với anh Tô Quốc T1, xác định anh T1 là tài xế xe buýt cho Hợp tác xã và không quen biết với Nguyễn Quốc V.

*Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (Một) Đơn đề nghị học, thi giấy phép lái xe (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày: 15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04, dấu màu đỏ hình chữ nhật thể hiện thông tin “Hồ sơ hợp lệ. Hạng FC, SBD 328" (A1).
  • + 01 (Một) Giấy chứng nhận sức khỏe (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình chữ nhật giáp lai hình ảnh của Sở y tế thành phố H – Bệnh viện Q – Khoa khám bệnh (A2).
  • + 01 (Một) Chứng chỉ nghề (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, nơi sinh: Tây Ninh, nghề đào tạo: Lái xe ô tô hạng FC, khóa học: 06/2017 đến 09/2017, cấp ngày 02/09/2017, số hiệu: BQP-QK7, vào sổ cấp chứng chỉ số 0328 ngày 02/9/2017, có chữ ký Hiệu trưởng Nguyễn Văn H1, có dấu màu đỏ của Trường cao đẳng N2- Bộ Q1, có dán ảnh màu 03x04 + dấu chìm hình tròn giáp lai hình ảnh (A3) .
  • + 01 (Một) Biên bản tổng hợp kết quả sách hạch xe ô tô (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và có chữ ký giám đốc Sở giao thông vận tải thành phố H Bùi Xuân C, có dấu màu đỏ hình tròn của Sở giao thông vận tải thành phố H (A4).
  • + 01 (Một) Giấy chứng nhận sức khỏe (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày: 15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình tròn giáp lai hình ảnh của Bệnh viện Q2, Tp . Hồ Chí Minh (A5).
  • + 01 (Một) Sơ yếu lý lịch (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình tròn giáp lai hình ảnh của Phường D, Quận C, Tp . Hồ Chí Minh (A6).
  • + 01 (Một) Đơn xin việc (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình tròn giáp lai hình ảnh của Phường D, Quận C, Tp. Hồ Chí Minh (A7).

Tại Kết luận giám định Số 206/KL-KTHS (TL) ngày 07/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận về các tài liệu thu giữ như sau:

“1. Hình dấu chữ nhật có nội dung “HỒ SƠ HỢP LỆ - HẠNG FC - SBD 328” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

2. Hình dấu chữ nhật có nội dung “SỞ Y TẾ TP. HỒ CHÍ MINH BỆNH VIỆN QUẬN 7 KHOA KHÁM BỆNH”, hình dấu tròn có nội dung CỘNG HÒA XH.C.N VIỆT NAM * THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI” và chữ ký mang tên “Nguyễn Hồng H2”, “Bùi Xuân C” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2 và A4) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

3. Phôi và và chữ ký mang tên “Nguyễn Văn H1” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

4. Để có cơ sở kết luận các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A5 đến A) là thật hay giả. Phòng K Công an tỉnh B đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D thu mẫu chữ ký và hình dấu có nội dung như trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A5 đến A7) không giới hạn số lượng (ít nhất 03 mẫu) và gửi toàn bộ hồ sơ về phòng K để giám định.”

Tại Kết luận giám định số 616/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, đối với các tài liệu “Đơn xin việc” (ký hiệu A6) và “Sơ yếu lý lịch” (ký hiệu A7) kết luận: “Hình dấu tròn có nội dung “*U.B.N.D PHƯỜNG 4 QUẬN 3 – TP . HỒ CHÍ MINH” trên các tài liệu cần giám định so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một con dấu đóng ra.”

Tại Kết luận giám định số 1642/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, đối với tài liệu “Giấy chứng nhận sức khoẻ (Điều khiển các phương tiện giao thông cơ giới), đề ngày 18/9/2019 (ký hiệu A) kết luận: “Hình dấu tròn có nội dung “UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – BỆNH VIỆN QUẬN 3” trên “Giấy chứng nhận sức khoẻ (Điều khiển các phương tiện giao thông cơ giới), đề ngày 18/9/2019 (ký hiệu A) so với hình dấu tròn trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) không phải do cùng một con dấu đóng ra".

Cáo trạng số 143/CT-VKS-DA ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V

về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng.

* Xử lý tang vật, tư vật :

Đối với các tài liệu giả thu giữ trong vụ án, xét thấy là vật chứng trong vụ án nên cần nộp lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với bằng lái xe ô tô Hạng FC mang tên Tô Quốc T1 do Nguyễn Quốc V đã tiêu huỷ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không thu hồi được.

Đối với điện thoại di động V sử dụng để liên lạc với đối tượng “Mãi”, trong quá trình bỏ trốn, V đã bỏ điện thoại và sim nên không thu hồi được.

Đối với chị Nguyễn Thị Cẩm H là Giám đốc Công ty TNHH T2, địa chỉ: Số D, đường B, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không biết Nguyễn Quốc V sử dụng giấy tờ giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý hình sự.

Đối với đối tượng “Mãi” đã làm giả giấy tờ giả cho V, do chưa rõ lai lịch, địa chỉ, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến.

Bị cáo không tranh luận, không đối đáp.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do có nhu cầu xin việc làm là tài xế lái xe Container nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định nên bị cáo V đã lên mạng xã hội để đăng tin tìm người làm giả hồ sơ xin việc và bằng lái xe hạng FC. Sau khi đăng tin đối tượng “Mãi” đã liên hệ qua mesenger thỏa thuận với bị cáo V về giá làm hồ sơ + bằng lái giả là 4.500.000 đồng, theo đó bị cáo V cung cấp cho đối tượng “Mãi” 02 tấm ảnh cỡ 3 x 4 của mình cho “Mãi”, để “Mãi” làm hồ sơ giả cho V. Sau khi nhận được hồ sơ và bằng lái, bị cáo đã xin việc làm là lái xe Container tại Công ty TNHH T2 và vào làm từ ngày 25/9/2019, quá trình làm việc ngày 30/11/2020, khi điều khiển xe đã xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô do chị Trương Thị H3 Ny điều khiển, chị N1 chết tại chỗ. Quá trình điều tra xác định bị cáo V không có lỗi trong vụ tai nạn khiến chị N1 chết nên không khởi tố vụ án hình sự Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Khi tiến hành điều tra, cơ quan điều tra thu thập được bộ hồ sơ xin việc và bằng lái xe của bị cáo V với tên là Tô Quốc T1, bị cáo thừa nhận toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ xin việc là được làm giả.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định Số 206/KL-KTHS (TL) ngày 07/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; Kết luận giám định số 616/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; Kết luận giám định số 1642/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; Hình ảnh tra cứu GPLX online tên Tô Quốc T1; giấy tờ tài liệu trong bộ hồ sơ xin việc (vật chứng của vụ án) thì toàn bộ chữ ký của người có thẩm quyền và dấu tròn của các cơ quan tổ chức đóng trên hồ sơ xin việc của bị cáo V (với tên gọi Tô Quốc T1) là giả.

[4] Hành vi khách quan của bị cáo V: bị cáo V không trực tiếp làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức, tuy nhiên bị cáo có hành vi chủ động thuê và cung cấp thông tin cá nhân của mình, cụ thể là cung cấp 02 tấm ảnh màu cỡ 3 x 4 của mình cho đối tượng “Mãi”, sau đó “Mãi” sử dụng 02 tấm ảnh V đã cung cấp và in thêm 06 tấm ảnh để dán vào các tài liệu làm giả hồ sơ xin việc và giấy phép lái xe cho mình đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; số lượng hình ảnh do V cung cấp được dán trên giấy tờ làm giả gồm: 01 (một) Đơn đề nghị học, thi giấy phép lái xe; 01 (một) Giấy chứng nhận sức khỏe; 01 (một) Chứng chỉ nghề; 01 (một) Biên bản tổng hợp kết quả sách hạch xe ô tô; 01 (một) Giấy chứng nhận sức khỏe; 01 (một) Sơ yếu lý lịch; 01 (một) Đơn xin việc và 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng FC, đã vi phạm quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự “Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên”. Như vậy, hành vi của bị cáo V đã phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 143/2024/CT-VKS-DA ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp

về tội danh và định khung hình phạt. Căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử bị cáo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[5] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về nhân thân: Bị cáo bị khởi tố về tội Trộm cắp tài sản.

[8] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng

  • - Đối với các tài liệu là vật chứng thu được trong vụ án cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
  • - Đối với bằng lái xe ô tô Hạng FC mang tên Tô Quốc T1, bị cáo Nguyễn Quốc V đã tiêu huỷ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không thu hồi được nên không xem xét xử lý.
  • - Đối với điện thoại di động bị cáo V sử dụng để liên lạc với đối tượng “Mãi”, trong quá trình bỏ trốn, V đã bỏ điện thoại và sim, cơ quan Điều tra không thu hồi được nên không xem xét xử lý.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị Cẩm H là Giám đốc Công ty TNHH T2, địa chỉ: Số D, đường B, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không biết Nguyễn Quốc V sử dụng giấy tờ giả để xin việc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý hình sự là đúng quy định.
  • - Đối với đối tượng “Mãi” đã làm giả giấy tờ giả cho V, do chưa rõ lai lịch, địa chỉ, khi nào làm rõ xử lý sau.

[09] Từ những phân tích trên, xét thấy tội danh và mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Lưu trữ trong hồ sơ vụ án:

  • + 01 (Một) Đơn đề nghị học, thi giấy phép lái xe (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày: 15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04, dấu màu đỏ hình chữ nhật thể hiện thông tin “Hồ sơ hợp lệ. Hạng FC, SBD 328" (A1).
  • + 01 (Một) Giấy chứng nhận sức khỏe (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình chữ nhật giáp lai hình ảnh của Sở y tế thành phố H – Bệnh viện Q – Khoa khám bệnh (A2).
  • + 01 (Một) Chứng chỉ nghề (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, nơi sinh: Tây Ninh, nghề đào tạo: Lái xe ô tô hạng FC, khóa học: 06/2017 đến 09/2017, cấp ngày 02/09/2017, số hiệu: BQP-QK7, vào sổ cấp chứng chỉ số 0328 ngày 02/9/2017, có chữ ký Hiệu trưởng Nguyễn Văn H1, có dấu màu đỏ của Trường cao đẳng N2- Bộ Q1, có dán ảnh màu 03x04 + dấu chìm hình tròn giáp lai hình ảnh (A3) .
  • + 01 (Một) Biên bản tổng hợp kết quả sách hạch xe ô tô (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và có chữ ký giám đốc Sở giao thông vận tải thành phố H Bùi Xuân C, có dấu màu đỏ hình tròn của Sở giao thông vận tải thành phố H (A4).
  • + 01 (Một) Giấy chứng nhận sức khỏe (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày: 15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình tròn giáp lai hình ảnh của Bệnh viện Q2, Tp . Hồ Chí Minh (A5).
  • + 01 (Một) Sơ yếu lý lịch (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình tròn giáp lai hình ảnh của Phường D, Quận C, Tp . Hồ Chí Minh (A6).
  • + 01 (Một) Đơn xin việc (bản chính) mang tên Tô Quốc T1 – sinh ngày:15/12/1991, địa chỉ: xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh. Có ảnh màu 03x04 và dấu màu đỏ hình tròn giáp lai hình ảnh của Phường D, Quận C, Tp . Hồ Chí Minh (A7).

(Số bút lục từ 113 – 119, hồ sơ vụ án)

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Quốc V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Công an TP Dĩ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PC 10 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Dương;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 188/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger