Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HS – ST

Ngày: 19-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

Ông Trần Đình Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Phan Phúc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/TLST – HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Viết T, sinh năm 1985 tại tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Khu phố L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết B, sinh năm 1956 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1957; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.

- Tiền án: Ngày 12/9/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 290/2012/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/3/2024. Bị cáo chưa nộp án phí và bồi thường dân sự.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 12/7/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 13 tháng tù về tội cướp tài sản theo Bản án số 103/2002/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/04/2003.

+ Ngày 12/04/2006, bị UBND tỉnh N đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 1016/QĐ.

+ Ngày 12/12/2008 bị UBND tỉnh N đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 2653/QĐ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/5/2024, chuyển tạm giam ngày 23/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P (có mặt tại phiên tòa).

2. Tô Phước P, sinh năm 1990 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi cư trú: Tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Hoàng P1 (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1962; Gia đình bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/5/2024, chuyển tạm giam ngày 23/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tô Phước P là người nghiện ma túy tổng hợp, không có việc làm ổn định nên đã nảy sinh ý định mua trái phép chất ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời. Từ tháng 4 năm 2024 đến ngày 13/5/2024, P đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Viết T. Cụ thể:

Lần thứ nhất:

Vào một ngày đầu tháng 04/2024 (P không nhớ rõ ngày), T điện thoại hỏi mua của P 600.000 đồng tiền ma túy, P đồng ý bán nhưng do không có tiền nên P yêu cầu T đưa trước cho P 600.000 đồng, T đồng ý. Sau khi nhận tiền của T, P đi đến khu vực khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp một người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 600.000 đồng.

Sau khi mua được ma túy, P đem về nhà của mình ở tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P lấy một phần ma túy ra để mình sử dụng. Số ma túy còn lại, P hẹn T đi đến trước khu vực bụi tre gần nhà P để bán cho T với giá 600.000 đồng.

Lần thứ hai:

Vào một ngày cuối tháng 04/2024 (P không nhớ rõ ngày), T tiếp tục hỏi mua của P 1.000.000 đồng tiền ma túy thì P đồng ý bán và yêu cầu T đưa tiền trước cho P. Sau khi nhận tiền từ T, P đi đến khu vực khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp một người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng.

Sau khi mua được ma túy, P đem về nhà của mình ở tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P lấy một phần ma túy ra để mình sử dụng. Số ma túy còn lại, P hẹn T đi đến trước khu vực bụi tre gần nhà P để bán cho T với giá 1.000.000 đồng.

Lần thứ ba:

Vào một ngày đầu tháng 05/2024 (P không nhớ rõ ngày), T tiếp tục hỏi mua của P 200.000 đồng tiền ma túy thì P đồng ý bán. P yêu cầu T đưa tiền trước cho P. Sau khi nhận tiền từ T, P đi đến khu vực khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp một người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 200.000 đồng.

Sau khi mua được ma túy, P đem về nhà của mình ở tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P lấy một phần ma túy ra để mình sử dụng. Số ma túy còn lại, P hẹn T đi đến trước khu vực bụi tre gần nhà P để bán cho T với giá 200.000 đồng.

Lần thứ tư:

Do gặp khó khăn về việc làm nên Trần Viết T nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời, khoảng 15 giờ ngày 13/5/2024, T điện thoại cho P hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy, P đồng ý bán và yêu cầu T đến nhà của P tại tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P lấy ma túy thì T đồng ý. Sau khi T hỏi mua ma túy, P tiếp tục đi đến khu vực khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp một người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P đen về nhà của mình ở tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, chia ma túy thành 02 (hai) gói nhỏ. P cất giấu một gói trong người để bán cho người nghiện kiếm lời. Gói còn lại P gọi cho T đến nhà để bán cho T với giá 500.000 đồng.

Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà trọ của mình tại tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lấy ra một ít để sử dụng. Số ma túy còn lại, T cất giấu vào trong túi vải trên móc treo chìa khóa. Đến 09 giờ ngày 14/5/2024, có một người đàn ông tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại hỏi mua của T 200.000 đồng tiền ma túy thì T đồng ý bán và yêu cầu H1 đến nhà trọ của T để mua ma túy. Sau khi trao đổi với H1, T lấy móc chìa khóa có chứa gói ma túy đeo vào thắt lưng quần rồi ngồi tại phòng đợi H1. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang ngồi trước cửa phòng trọ để đợi H1 đến mua ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu - trong suốt; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng sữa đã qua sử dụng và 01 (một) túi đựng chìa khóa bằng vải màu cam.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Tô Phước P tại tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thu giữ tang vật gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu - trong suốt; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ MB ghi tên TO PHUOC PHU và 01 (một) cân tiểu ly (BL: 05, 06; 46, 47; 50, 51; 107-172).

Tại bản Kết luận giám định số 293/KL-KTHS-MT ngày 18/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B, tiến hành giám định đối với: Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường M, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đỗ Trọng T1, Trần Ngọc T2, Hoàng Công Đ, Trần Viết T, Mai Việt K1, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A1).

Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 02), có hình dấu của Công an phường M, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Lê Trung S1, Đỗ Trọng T1, Hoàng Công Đ, Tô Phước P, Mai Việt K1, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A2), kết luận:

“- Mẫu A1 có khối lượng 0,2496gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Mẫu A2 có khối lượng 0,1419gam, là ma túy, loại Methamphetamine.” (BL: 70).

Về xử lý vật chứng:

02 (hai) phong bì niêm phong màu trắng đề số 293/1, 293/2 ngày 18/05/2024 của Phòng K2 công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định;

01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng sữa đã qua sử dụng và 01 (một) túi đựng chìa khóa bằng vải màu cam;

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;

01 (một) thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ MB ghi tên TO PHUOC PHU;

01 (một) cân tiểu ly;

Đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 171/CT-VKS ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Tô Phước P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Viết T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tô Phước P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Viết T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Phước P từ 08 năm đến 09 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Viết T từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo Tô Phước P, Trần Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án và tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, các bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy đủ căn cứ kết luận:

[2.1] Trong thời gian từ đầu tháng 4 năm 2024 đến ngày 13/5/2024 tại tổ B, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tô Phước P đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Viết T, cụ thể: Lần thứ nhất, P bán cho T 01 (một) gói ma túy với giá 600.000 đồng để T sử dụng; Lần thứ hai, P bán cho T 01 (một) gói ma túy với giá 1.000.000 đồng để T sử dụng; Lần thứ ba, P bán cho T 01 (một) gói ma túy với giá 200.000 đồng để T sử dụng; Lần thứ tư, P bán cho T 01 (một) gói với giá 500.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/05/2024 tại tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khi T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2496 gam nhằm mục đích bán cho H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo:

Ma túy là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây ra những căn bệnh chết người, làm thiệt hại về kinh tế và làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích kiếm lời, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo P thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần. Bị cáo T đã từng chấp hành hình phạt tù về tội danh khác và bị xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lần này.

Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đủ sức giáo dục, răn đe, giúp cho bị cáo từ bỏ được ma túy đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Viết T đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại phạm tội do cố ý nên với lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Tô Phước P không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong màu trắng vụ số 293/1, 293/2 ngày 18/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B.

- Tịch thu tiêu huỷ các dụng cụ do các bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 túi nhỏ bằng vải màu cam hình mũ lưỡi trai có dòng chữ HONDA; 01 thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ MB ghi tên TO PHUOC PHU; 01 Cân tiểu ly do không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước các tài sản do các bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội, cụ thể:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng sữa, không tìm thấy số imel, máy đã cũ và không hoạt động của bị cáo T.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, không tìm thấy số imel, máy đã cũ và không hoạt động của bị cáo P.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về vấn đề khác: Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thị xã P tiếp tục điều tra, làm rõ nhân thân, lai lịch của K là người bán trái phép chất ma túy cho Tô Phước P để xử lý theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Tô Phước P, Trần Viết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Phước P 09 (C) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2024.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Viết T 04 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2024.3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong hai phong bì niêm phong vụ số 293/1, 293/2 ngày 18/5/2024 của Phòng K2, Công an tỉnh B.

- Tịch thu tiêu huỷ các dụng cụ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 túi nhỏ bằng vải màu cam hình mũ lưỡi trai có dòng chữ HONDA; 01 thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ MB ghi tên TO PHUOC PHU do không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng sữa, không tìm thấy số imel, máy đã cũ và không hoạt động của bị cáo T.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, không tìm thấy số imel, máy đã cũ và không hoạt động của bị cáo P.

(Các vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 09/BB-CCTHADS ngày 04/11/2024).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Tô Phước P, Trần Viết T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - CCTHA dân sự thị xã Phú Mỹ;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HS – ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 188/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: To Phuoc Phu va dong pham mua ban trai phep chat ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger