Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-6-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và

Gia đình”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hoàng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 281/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1992. Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn anh Đoàn Văn H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm Y, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Địa chỉ hiện nay: Singapore. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Nguyễn Thị C trình bày:

Chị C và anh Đoàn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/5/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Chị C và anh H sống ly thân từ tháng 5/2016 và sau đó anh H đi Singapore làm việc. Do vợ chồng không còn liên lạc với nhau nên chị C không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Singapore. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đoàn Gia H1, sinh ngày 12/02/2016. Nếu ly hôn chị C đề nghị Tòa án giao con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Đoàn Văn H:

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh H theo thủ tục niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Theo trình bày của ông Đoàn K (bố của anh H) thì anh H hiện đang lao động ở Singapore, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể; anh H đã biết việc chị C làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, nhưng anh H không có ý kiến gì. Đến ngày xét xử vụ án anh H không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

  • - Về thẩm quyền: Anh H đang ở Singapore nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
  • - Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo ông Đoàn K (bố của anh H) cung cấp thông tin hiện nay anh H đang đi xuất khẩu lao động ở Singapore, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh H thường xuyên gọi điện thoại về cho gia đình; anh H đã biết được việc chị C xin ly hôn và không có ý kiến gì. Việc anh H vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và xử cho chị C được ly hôn với anh H.
  • - Về nuôi con chung: Giao cháu Đoàn Gia H1, sinh ngày 12/02/2016 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh H có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị C không yêu cầu, anh Đoàn Văn H chưa có ý kiến nên chưa xem xét.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  • - Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị C trình bày anh H đang ở Singapore nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh H là ông Đoàn K (bố của ạnh H) thì được cung cấp thông tin hiện nay anh H đang ở Singapore, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh H thường xuyên gọi điện cho gia đình. Ngày 30/10/2023, Cục Q có Công văn số 28564/QLXNC-P3 cung cấp thông tin anh Đoàn Văn H xuất cảnh ngày 10/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Do anh H trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Đoàn K (bố của anh H) cung cấp hiện nay anh H đang ở Singapore nhưng không biết địa chỉ cụ thể; anh H vẫn gọi điện thoại về cho gia đình và đã biết được chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhưng anh H không có ý kiến gì. Như vậy, anh H đã biết được chị C yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Chị C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H. Xét thấy, chị C, anh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau. Hiện chị C đang ở Việt Nam, anh H ở nước ngoài, không thường xuyên liên lạc nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị C được ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đoàn Gia H1, sinh ngày 12/02/2016. Hiện nay, anh H đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị C đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung và cháu H1 mong muốn sống cùng mẹ. Vì vậy, giao con chung Đoàn Gia H1 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị C chưa yêu cầu, anh Đoàn Văn H chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử chưa xem xét, giải quyết.

[5] Tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Đoàn Văn H vắng mặt chưa có ý kiến nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị C ly hôn với anh Đoàn Văn H.
  2. Về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Đoàn Gia H1, sinh ngày 12/02/2016 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Chị Nguyễn Thị C chưa yêu cầu anh Đoàn Văn H cấp dưỡng nuôi con. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004438 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị C vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Đoàn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã L, h Y;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Hoàng Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 188/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 188/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị C xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger