|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 188/2024/DS-PT Ngày 19/11/2024 “V/v tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Vương Thảo
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Bé
Ông Vũ Việt Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ngân - Thư ký TAND TP.Đà Nẵng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Mạnh– Kiểm sát viên.
Ngày 19/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2024/TLPT-DS ngày 16/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa vang, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXPT-DS ngày 05/11/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1961 và bà Đặng Thị Thu T1, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
Người được ủy quyền: Bà Trần Thị Khánh N, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ E, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng (Giấy ủy quyền ngày 12/06/2024 được Văn phòng C chứng nhận). Có mặt
- Bị đơn: Ông Trần Lê M, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1975; Cùng địa chỉ: Tổ H, Thôn P, xã H, huyện H, Tp .. Có mặt
- Người kháng cáo: Ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K, là bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người được ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 – Bà Trần Thị Khánh N trình bày: Trước đây vợ chồng ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K được cha mẹ ruột là ông Trần Đ (tên gọi khác: Trần T2) và bà Nguyễn Thị K1
tặng cho thửa đất số 78, tờ bản đồ số 114 tại địa chỉ Thôn P, xã H, huyện H, Tp . theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 422000 do Sở T3 cấp ngày 03/01/2020, đứng tên ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị K1.
Vào đầu năm 2019, vợ chồng ông Trần Lê M, bà Nguyễn Thị K đã đồng ý chuyển nhượng cho vợ chồng tôi (Võ Văn T và Đặng Thị Thu T1) diện tích 500m² đất nền thuộc thửa đất tại địa chỉ nêu trên (gồm 200m² đất ở và 300 m² đất trồng cây lâu năm), giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng. Mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của ông Trần T2 nhưng vì vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 và vợ chồng ông M, bà K là chỗ thân quen, hai bên thống nhất đất sau này ông M, bà K được nhận thừa kế từ ông Trần T2 nên hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc khi nào ông M, bà K được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hai bên sẽ ký Hợp đồng chuyển nhượng.
Vào ngày 28/02/2019, ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K đã nhận của vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 số tiền 300.000.000 đồng và hai bên đã viết Giấy nhận đặt cọc mua bán nhà đất để ghi nhận việc đặt cọc. Đến ngày 01/3/2019, vợ chồng ông Võ Văn T và Đặng Thị Thu T1 có đưa thêm 200.000.000 đồng tiền cọc cho ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị Kim N1 hai bên tiếp tục viết Giấy giao nhận đặt cọc mua bán nhà đất để ghi nhận tổng số tiền cọc cho hai lần là 500.000.000 đồng.
Theo nội dung hai bên đã thỏa thuận trong các Giấy giao nhận đặt cọc mua bán nhà đất ngày 01/3/2019 thì sau khi ông M, bà K làm thủ tục tách thửa và được cấp GCNQSDĐ thì hai bên sẽ ra Công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 được biết là ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng lại không liên hệ gì để hai bên tiếp tục việc chuyển nhượng mua, bán đất. Sau nhiều lần yêu cầu và đề nghị ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị Kim Đ1 ký Hợp đồng chuyển nhượng nhưng không được thì vào ngày 29/01/2022 ông M, bà K có liên hệ để trả lại ông Võ Văn T và Đặng Thị Thu T1 200.000.000 đồng tiền đặt cọc. Vì vẫn muốn mua đất và tạo điều kiện cho bên bán thực hiện nghĩa vụ nên vợ chồng tôi đồng ý nhận lại tiền và tiếp tục chờ đợi ông M, bà K để làm thủ tục chuyển nhượng.
Tuy nhiên, ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K không thiện chí và vi phạm thỏa thuận theo Hợp đồng đặt cọc. Vì vậy, vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 làm đơn khởi kiện và yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết buộc ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K phải trả lại tiền cọc là 300.000.000 đồng và tiền phạt cọc là 300.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc ngày 28/02/2019 và Hợp đồng đặt cọc ngày 01/3/2019 mà ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K đã ký
kết. Tại phiên tòa, ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu phạt cọc đối với số tiền 300.000.000đ.
* Bị đơn - ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K trình bày:
Vợ chồng tôi (Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K) xác nhận vào ngày 28/02/2019 đã nhận số tiền 300.000.000 đồng của vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 và hai bên đã viết Giấy nhận đặt cọc mua bán nhà đất để ghi nhận việc đặt cọc. Đến ngày 01/3/2019, vợ chồng có nhận thêm số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng của vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 nên hai bên tiếp tục viết Giấy giao nhận đặt cọc mua bán nhà đất để ghi nhận tổng số tiền cọc cho hai lần là 500.000.000 đồng và vợ chồng tôi đã nhận đủ số tiền đặt cọc để thoả thuận về việc chuyển nhượng 500m² đất nền (gồm 200m² đất ở và 300 m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 114 tại địa chỉ thôn P, xã H, huyện H, Tp . theo Giấy chứng nhận quyền sử hữu đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đang đứng tên sở hữu của cha mẹ tôi là ông Trần Đ và bà Nguyễn Thị K1, giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng. Phần diện tích đất này là được cha mẹ tặng cho vợ chồng tôi nhưng thời điểm đó đất còn đang tranh chấp nên không thể làm thủ tục tách thửa. Vợ chồng tôi cũng đã nói rõ với vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 về việc này nhưng ông T, bà T1 nói vẫn đồng ý mua, không cần làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, khi nào vợ chồng tôi làm xong thủ tục tách thửa thì hai bên mới làm Hợp đồng chuyển nhượng. Tức là thời điểm đó, vợ chồng tôi vẫn chưa đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong thời gian chờ làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vào ngày 29/01/2022 vợ chồng ông T, bà T1 đã đến nhà vợ chồng tôi và trao đổi không muốn mua đất nữa nên vợ chồng tôi đã trả lại cho vợ chồng ông T, bà T1 số tiền 200.000.000 đồng. Đối với số tiền đã đặt cọc 300.000.000 đồng còn lại mà vợ chồng tôi đã nhận cọc do ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 do đã vi phạm thoả thuận, không đồng ý tiếp tục Hợp đồng chuyển nhượng nên vợ chồng tôi không đồng ý trả lại. Đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1.
Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm đã xử và quyết định:
Căn cứ vào các Điều 117, 122, 131, 164, 166 và Điều 328 BLDS; Điều 244 BLTTDS. Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 về yêu cầu phạt cọc. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 đối với bị đơn ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị Kim .
Xử: Buộc ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K phải có nghĩa vụ trả cho ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 14/11/2024 hai bên đã có sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án, theo đó, vợ chồng ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K đã trả cho vợ chồng ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 200.000.000đồng tiền cọc, số tiền đặt cọc còn lại 100.000.000đồng vợ chồng ông T bà T1 đồng ý giảm cho vợ chồng ông M, bà K 50.000.000đồng, 50.000.000đồng còn lại ông M, bà Kim G tại phiên tòa hôm nay.
Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến đã thỏa thuận
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
- + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm 51/2024/DS-ST ngày 15.8.2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, do nội dung thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự về sự thỏa thuận, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Hội đồng xét xử nhận định:
- Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm vợ chồng ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K đã trả cho ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 số tiền đặt cọc 200.000.000₫ vào ngày 14/11/2024. Số tiền đặt cọc còn lại 100.000.000đồng các bên đương sự thống nhất thỏa thuận: Vợ chồng ông Trần Lê M, bà Nguyễn Thị K có trách nhiệm trả cho ông Võ Văn T, bà Đặng Thị Thu T1 50.000.000đồng vào ngày 19/11/2024 (Ông T, bà T1 giảm cho ông M, bà K
- 50.000.000đồng và đã giao nhận xong tại phiên tòa). Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị Kim P chịu theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, áp dụng Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa Bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như trên.
-
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Tại cấp phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do đó, án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại trên số tiền 50.000.000đồng mà ông M, bà K phải có trách nhiệm trả tiếp cho ông T, bà T1, theo đó bị đơn ông M bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Lê M, bà Nguyễn Thị Kim P chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
- Ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả cho ông Võ Văn T và bà Đặng Thị Thu T1 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). (Đã giao nhận xong ngày 19/11/2024)
-
Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: 2.500.000đồng ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị Kim P chịu. Hoàn trả cho ông Võ Văn T, bà Đặng Thị Thu T1 số tiền tạm
- ứng án phí 7.000.000đ đã nộp, theo biên lai thu số 0002069 ngày 17/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Lê M và bà Nguyễn Thị Kim P chịu 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông M, bà K đã nộp theo Biên lai thu số 0002312 ngày 06/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Vương Thảo |
Bản án số 188/2024/DS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và phạt cọc
- Số bản án: 188/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 19/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2024/TLPT-DS ngày 16/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc”
