|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 188/2023/HS-ST Ngày 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam
+ Bà Trần Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, tại hai điểm cầu gồm: điểm cầu trung tâm tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện TP và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ - Công an huyện TP với sự hổ trợ của những người tiến hành tố tụng gồm: Bà Trần Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên; Ông Phan Hoài Trọng - Thư ký Tòa án; ông Phan Minh Hải - Đội trưởng Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự, đối với bị cáo:
Lê Trung Th (Tên gọi khác: Ben); Sinh ngày: 14/12/1988 tại tỉnh Bình Thuận;
Nơi thường trú: Khu phố ST1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Thôn LL1, xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Sữa chữa điện tử; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ngọc T(đã chết) và bà Nguyễn Thị Tr; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Phạm Ngọc Sơn, sinh năm 2003. Nơi cư trú: thôn LL1, xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- + Ngô Minh Trung Chánh, sinh năm 1997. Nơi cư trú: thôn Bình Thủy, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
- Người làm chứng:
- + Nguyễn Thành Hiệp, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khu phố Hải Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- + Hồ Hữu Hiệp, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Số 113/1 Trần Hưng Đạo, khu phố Thanh Giang 1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)
- + Huỳnh Thị Hổ, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Khu phố Hải Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. (có đơn xin xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 17/5/2023, Lê Trung Th, sinh năm 1988, trú tại: khu phố ST1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP; Nơi ở hiện tại: thôn LL1, xã HM, huyện TP dùng điện thoại Oppo màu xanh, số thuê bao 0904063807 trao đổi qua số thuê bao 0329035042 (lưu trong danh bạ tên Hiệp Nhỏ) của Nguyễn Thành Hiệp, sinh năm 1988, trú tại: khu phố Hải Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP nói Th đã sửa xong điện thoại của Hiệp do trước đó Hiệp có nhờ Th sửa điện thoại và Hiệp rủ Th đến phòng trọ của Hiệp chơi sẵn đưa lại điện thoại cho Hiệp. Do Th thường xuyên sang nhà Hiệp chơi nên khi Hiệp đi công việc thì nhờ Th trông coi phòng trọ và khóa cửa giúp khi Hiệp chưa về. Vào khoảng 11 giờ ngày 17/5/2023, Lê Trung Th bọc đoạn ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá cùng 02 gói ma túy đá đến phòng trọ không tên tại thôn LL1, xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận do Nguyễn Thành Hiệp thuê trọ, khi đến nơi Th thấy Hiệp ở một mình trong phòng. Th không nói cho Hiệp biết việc Th cất giấu ma túy trong người.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì có Phạm Ngọc Sơn, sinh năm 2003, trú tại thôn LL1, xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận sử dụng tài khoản Messenger “Pham Ngọc Swon” trao đổi qua tài khoản Messenger “Ben Lee” của Th nói “Sí em ghé lên nha”, ý nói chút nữa Sơn lên nhà Th để sử dụng ma túy đá thì Th hiểu và đồng ý. Một lúc sau, Sơn đến trước nhà và nhắn tin qua Messenger nói Th ra mở cửa cho Sơn vào nên Th đi ra dẫn Sơn vào phòng trọ Hiệp chơi. Th và Sơn ngồi chơi với Hiệp được khoảng 15 phút thì Hiệp nói đi ra ngoài có công việc, Hiệp nhờ Th khóa cửa phòng lại giúp khi Hiệp chưa về thì Th đồng ý. Khi Hiệp đi khỏi phòng, Th một mình đi ra ngoài tìm chai nhựa khoét lỗ để đút nỏ thủy tinh có sẵn ma túy đá mà Th đã hút trước đó còn lại và ống hút nhựa mang vào để trên nền nhà của phòng trọ. Th rủ Sơn cùng sử dụng ma túy đá thì Sơn đồng ý và cả hai xoay vòng sử dụng.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, có Ngô Minh Trung Chánh (tên thường gọi là Long), sinh năm 1997, trú tại: thôn Bình Thủy, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận dùng tài khoản Messenger "Long Ngô” trao đổi với Th nói Chánh còn 100.000 đồng góp vào mua nước để đến nhà Th chơi được không thì Th hiểu Chánh xin đến sử dụng ma túy đá nên Th đồng ý. Khi Chánh đến trước nhà Th thì có liên hệ với Th, Th ra trước dẫn Chánh đến phòng trọ của Hiệp. Tại đây, Chánh lấy 100.000 đồng để dưới nền phòng trọ nói góp vào để mua nước uống. Th, Sơn, Chánh xoay vòng sử dụng ma túy đá nhiều lần. Một lúc sau, Th nói Sơn lấy 100.000 đồng của Chánh đi mua nước ngọt về uống, Sơn lấy tiền đi mua nước ngọt. Sau khi mua nước ngọt trở về thì Sơn đưa cho Th số tiền thừa là 76.000 đồng. Th, Trung, Chánh tiếp tục sử dụng ma túy đá nhiều lần và uống nước ngọt. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Th về nhà ăn cơm rồi quay lại phòng trọ tiếp tục xoay vòng sử dụng ma túy với Sơn và Chánh.
Qua tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà trọ không tên tại thôn LL1, xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận do bà Huỳnh Thị Hổ, sinh năm 1967, trú tại: khu phố Hải Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, tỉnh Bình Thuận làm chủ có nhiều đối tượng tụ tập nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy. Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 17/5/2023, tổ công tác Công an xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận tiến hành kiểm tra phòng trọ cuối cùng thuộc nhà trọ nêu trên do Nguyễn Thành Hiệp thuê trọ. Th, Sơn, Chánh vừa sử dụng hết số ma túy đá trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thì nghe tiếng ồn ào từ bên ngoài, do lo sợ bị Công an phát hiện nên Th cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá mang vào treo trên móc quần áo trong nhà vệ sinh của phòng trọ rồi quay lại nơi cả ba vừa sử dụng ma túy đá ngồi. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang Th có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ cùng tang vật.
Thu giữ trên tay Th đang cầm 01 điện thoại hiệu OPPO màu xanh, bên trong ốp lưng điện thoại hiệu OPPO màu xanh có 01 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu xanh, có kích thước khoảng 2,5cm × 2,5cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (gửi giám định được định danh là mẫu M1). Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Th đang mặc có ví đựng tiền màu nâu, kiểm tra bên trong ngăn nhỏ của ví có 01 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu đỏ, kích thước khoảng 4,5cm × 6,5cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (gửi giám định được định danh là mẫu M2) và Th khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong 02 gói nylon đó là ma túy đá, Th cất giấu với mục đích để sử dụng, thu giữ số tiền 546.000 đồng. Thu giữ trên nền nhà chỗ Th, Chánh và Sơn đang ngồi có 02 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu trắng (01 gói kích thước khoảng 03cm × 2,5cm và 01 gói kích thước khoảng 02cm × 2,5cm), bên trong 02 gói nylon không có gì. Thu giữ trên móc treo quần áo trong nhà vệ sinh của phòng trọ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bộ dụng cụ có gắn ống thủy tinh dài khoảng 18 cm được uốn cong thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng không có gì và Th, Chánh, Sơn khai nhận là bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá, khi nghe có lực lượng Công an đến kiểm tra phòng trọ nên Th đã đem giấu vào nhà vệ sinh. Thu giữ của Ngô Minh Trung Chánh một điện thoại di động hiệu Iphone màu đen. Thu giữ của Phạm Ngọc Sơn một 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen. Ngoài ra không thu giữ gì khác.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu thể hiện Lê Trung Th, Phạm Ngọc Sơn, Ngô Minh Trung Chánh đều dương tính với Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 599/KL-KTHS ngày 25/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,1693 gam; là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0427 gam; là Methamphetamine (mẫu M2 trong quá trình giám định đã được phân tích hết).
Tổng khối lượng của mẫu M1 và M2 là: 0,2120 gam.
Lê Trung Th khai nhận: Qua tìm hiểu từ bạn bè ngoài xã hội, Lê Trung Th biết một người đàn ông có tên thường gọi là Hiệp Ma Cây không rõ nhân thân, lai lịch ở bên hông Cảng cá thuộc thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, tỉnh Bình Thuận có bán ma túy đá nên Hiệp tìm đến mua nhiều lần với mục đích để sử dụng. Cách ngày bị bắt khoảng hơn 01 tháng, Th dùng tiền cá nhân mua của Hiệp Ma Cây 01 gói ma túy đá nhỏ nhưng không nhớ số tiền đã mua rồi cất giữ trong ốp lưng điện thoại để sử dụng khi có nhu cầu. Sau đó, Th tiếp tục mua của Hiệp Ma Cây 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng và cất giữ trong ví với mục đích để sử dụng cá nhân.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện TP tạm giữ gồm:
- 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu xanh, kích thước khoảng 2,5cm × 2,5cm; 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng 4,5cm × 6,5cm; 0,1131 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH SỐ 599 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bộ dụng cụ có gắn ống thủy tinh dài khoảng 18cm được uốn cong, thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng không có gì; 02 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu trắng (01 gói kích thước khoảng 03cm × 2,5cm; 01 gói kích thước khoảng 02cm × 2,5cm). bên trong không có gì;
- 01 ví đựng tiền màu nâu của bị can Lê Trung Th;
- 01 điện thoại Oppo màu xanh của Lê Trung Th có số thuê bao 0904063807;
- Thu giữ của bị can Lê Trung Th số tiền 546.000 đồng (trong đó có 470.000 đồng là tiền của cá nhân Th; số tiền 76.000 đồng là tiền của Chánh góp cho Th mua nước uống);
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Phạm Ngọc Sơn;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Ngô Minh Trung Chánh.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 157/CT-VKSTP-HS ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 và Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Th mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Th mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Lê Trung Th phải chấp hành hình phạt chung từ 08 (Tám) năm đến 09 (Chín) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/5/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu xanh, kích thước khoảng 2,5cm × 2,5cm; 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng 4,5cm × 6,5cm; 0,1131 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH SỐ 599 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bộ dụng cụ có gắn ống thủy tinh dài khoảng 18cm được uốn cong, thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng không có gì; 02 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu trắng (01 gói kích thước khoảng 03cm × 2,5cm; 01 gói kích thước khoảng 02cm × 2,5cm), bên trong không có gì; 01 ví đựng tiền màu nâu của bị cáo Lê Trung Th.
- + Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Oppo màu xanh của Lê Trung Th có số thuê bao 0904063807; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Phạm Ngọc Sơn; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Ngô Minh Trung Chánh;
- + Trả lại cho bị cáo Lê Trung Th số tiền 470.000 đồng.
- + Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngô Minh Trung Chánh số tiền 76.000 đồng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận và đồng ý với quyết định truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Ngọc Sơn và tất cả người làm chứng. Xét thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và các chứng cứ của vụ án đã rõ ràng, đầy đủ, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Trung Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ tang vật chứng; Kết luận giám định chất ma tuý; Biên bản đối chất... Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 17/5/2023, tại phòng trọ không tên do Nguyễn Thành Hiệp thuê trọ thuộc thôn LL1, xã HM, huyện TP, tỉnh Bình Thuận, Lê Trung Th đã có hành vi cung cấp ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm cho Phạm Ngọc Sơn và Ngô Minh Trung Chánh cùng sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần. Ngoài ra, Lê Trung Th còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,2120 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cá nhân (ngoài ra không còn mục đích nào khác) thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật chứng. Như vậy, bị cáo Th đã có từ hai lần phạm tội trở lên và trong một lần phạm tội, bị cáo Th đã tổ chức cho hai người sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáo Lê Trung Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vì vậy, Cáo trạng số: 157/CT-VKSTP-HS ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP truy tố đối với bị cáo Lê Trung Th là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:
Ma tuý là chất gây nghiện đã được ghi nhận trong danh mục các chất ma túy do Chính Phủ ban hành và quản lý. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bền vững của xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.
[5] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu xanh, kích thước khoảng 2,5cm × 2,5cm; 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng 4,5cm × 6,5cm; 0,1131 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH SỐ 599 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bộ dụng cụ có gắn ống thủy tinh dài khoảng 18cm được uốn cong, thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng không có gì; 02 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu trắng (01 gói kích thước khoảng 03cm × 2,5cm; 01 gói kích thước khoảng 02cm × 2,5cm), bên trong không có gì; 01 ví đựng tiền màu nâu của bị cáo Lê Trung Th cần tịch thu, tiêu hủy do đây là những vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc là công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng.
- Đối với 01 điện thoại Oppo màu xanh của Lê Trung Th có số thuê bao 0904063807; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Phạm Ngọc Sơn; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Ngô Minh Trung Chánh cần tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước do đã làm rõ số điện thoại này dùng để liên lạc, trao đổi bàn bạc sử dụng ma túy.
- Đối với số tiền 470.000 đồng thu giữ của bị cáo Th, xét thấy đây là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại sau thi hành án sẽ được trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 76.000 đồng là số tiền còn lại sau khi Chánh góp cho bị cáo Th mua nước uống trong lúc sử dụng ma túy, xét thấy số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Chánh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP và Biên lai thu tiền số: 0001802 ngày 11/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP).
[7] Đối với Phạm Ngọc Sơn, Ngô Minh Trung Chánh không có hành vi hỗ trợ, giúp sức bị cáo Th trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và không biết việc bị cáo Th tàng trữ trái phép chất ma túy nên không phạm tội. Riêng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra có Công văn và sao trích hồ sơ có liên quan đề nghị Công an huyện TP để xử lý vi phạm hành chính.
- Đối với Nguyễn Thành Hiệp là khách thuê phòng trọ nơi xảy ra vụ án, khi bị cáo Th đến chơi thì Hiệp đã giao phòng trọ cho Th trông coi để đi công việc. Hiệp không biết việc Th cùng Sơn và Chánh sử dụng ma túy trong phòng trọ của mình nên không liên quan đến hành vi phạm tội của Th, do đó không xem xét xử lý.
- Đối với Huỳnh Thị Hổ là chủ nhà trọ không tên, nơi bị cáo Th thực hiện hành vi phạm tội do không biết việc bị cáo Th tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, cũng như không có hành vi hỗ trợ, giúp sức nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra đã có công văn và sao trích hồ sơ có liên quan chuyển cho Công an xã HM để xử lý theo quy định của pháp luật về hành vi cho thuê phòng trọ nhưng không có giấy phép kinh doanh.
- Đối với người thanh niên tên Hồ Hữu Hiệp (tên thường gọi Hiệp Ma Cây), bị cáo Th khai nhận mua ma túy của Hiệp nhưng đây là lời khai duy nhất của bị cáo nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh và xử lý khi làm rõ người đã bán ma túy cho bị cáo Th.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Th mức án 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Lê Trung Th mức án 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Lê Trung Th phải chấp hành hình phạt chung là 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/5/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu xanh, kích thước khoảng 2,5cm × 2,5cm; 01 gói nylon không màu được hàn kín, có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng 4,5cm × 6,5cm; 0,1131 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH SỐ 599 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên bộ dụng cụ có gắn ống thủy tinh dài khoảng 18cm được uốn cong, thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng không có gì; 02 gói nylon không màu được hàn kín có nhíp khóa một đầu màu trắng (01 gói kích thước khoảng 03cm × 2,5cm; 01 gói kích thước khoảng 02cm × 2,5cm), bên trong không có gì; 01 ví đựng tiền màu nâu của bị cáo Lê Trung Th.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Oppo màu xanh của Lê Trung Th có số thuê bao 0904063807; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Phạm Ngọc Sơn; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Ngô Minh Trung Chánh;
- Trả lại cho bị cáo Lê Trung Th số tiền 470.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền còn lại sau thi hành án sẽ được trả lại cho bị cáo.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngô Minh Trung Chánh số tiền 76.000 đồng.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Trung Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Lê Trung Th có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 26-12-2023).
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai có mặt bị cáo./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bích Thị Kim Pháp |
Bản án số 188/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 188/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Trung Th
