Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2023/HSST

Ngày: 30 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Tấn Đức

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 169/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Nguyễn Trọng H; sinh năm: 2001, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: A ấp D, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con: ông Trần Hữu T; sinh năm: 1978 và bà Nguyễn Thị B (chết); vợ, con: chưa có; nhân thân: Ngày 27/02/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 28/4/2018; ngày 05/7/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2019; ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2020; tiền án: Ngày 18/3/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2023; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2023 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; trú tại: 7 đường K, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1995; trú tại: 7 đường K, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Nguyễn Trọng H và M (chưa rõ lai lịch) là bạn bè quen biết nhau từ trước. Khoảng 18 giờ ngày 23/6/2023, M nhắn tin rủ H đi trộm cắp tài sản, H đồng ý. Sau đó M điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng (không rõ biển số) đến gặp và đưa cho H cất giữ 01 con dao bấm và dụng cụ bẻ khóa xe máy. Sau đó M điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter chở H đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày H và M phát hiện 01 xe gắn máy hiệu Honda Sonic biển số 59P2-712.86 của chị Nguyễn Thị Như d trước số C L, phường S, quận T, không người trông coi nên M dừng xe sát lề đường đứng ngoài cảnh giới, còn H đi bộ vào tiếp cận xe gắn máy và dùng dụng cụ bẻ khóa xe. Sau đó, H nổ máy và leo lên xe chuẩn bị chạy đi thì chị N phát hiện chạy ra nắm đuôi xe máy khiến H cùng xe máy ngã ra đường, H tiếp tục đứng dậy bỏ chạy thì chị N đuổi theo nắm tay áo của H, thì H rút dao quơ trước mặt chị N để hù dọa rồi bỏ chạy, chị N tiếp tục đuổi theo và giằng co với H, trong lúc giằng co để tẩu thoát thì H làm áo của chị N bị rách. Khi H bỏ chạy đến trước số C L, phường S, quận T, thì bị chị N và người dân bắt giữ giao cho Công an phường S xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1552/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận T, thời điểm định giá ngày 23/6/2023, kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Sonic 150R, màu đỏ trắng đen, biển số: 59P2-712.86, số máy: KB11E1144611, số khung: MH1KB1115JK145311, trị giá 30.800.000 đồng (BL 36).

Vật chứng:

  • + 01 xe gắn máy hiệu Honda Sonic, biển số: 59P2-712.86, số khung: 1115JK145311, số máy: KB11B1144611. Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Nguyễn Hoàng Q, thường trú: 150/28 đường B, phường B, quận B, chồng chị N đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho anh Q, anh Q và chị N không có yêu cầu gì khác.
  • + 01 áo thun ngắn tay, màu trắng bị rách dưới hông trái phía sau, là trang phục chị N mặc khi giằng co với H.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Realme, số I: 862132062169915.
  • + 01 con dao bấm bằng kim loại, chiều dài khoảng 25cm.
  • + 01 tay vặn đảo chiều bằng kim loại, dài khoảng 16cm;
  • + 01 đầu đoản bằng kim loại, dài khoảng 08cm;
  • + 01 đầu đoản bằng kim loại, dài khoảng 6,5cm;
  • + 01 thanh kim loại hình trụ vuông, dài khoảng 4cm;
  • + 01 quần jean dài, màu đen, 01 áo sơ mi caro dài tay, màu đen trắng, 01 áo thun ngắn tay, màu đen, là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
  • + 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh diễn biến vụ trộm cắp tài sản (kèm hồ sơ vụ án);

Tại bản cáo trạng số 170/CT-VKSQ.TP ngày 02 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Nguyễn Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên quan điểm về tội danh và điều khoản mà cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 38, Điều 50, điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Trọng H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

Bị cáo Trần Nguyễn Trọng H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày H và M (chưa rõ nhân thân lai lịch) phát hiện 01 xe gắn máy hiệu Honda Sonic biển số 59P2-712.86 của chị Nguyễn Thị Như d trước số C L, phường S, quận T, không người trông coi nên M dừng xe sát lề đường đứng ngoài cảnh giới, còn H đi bộ vào tiếp cận xe gắn máy và dùng dụng cụ bẻ khóa xe máy. Sau đó, H nổ máy và leo lên xe chuẩn bị chạy đi thì chị N phát hiện chạy ra nắm đuôi xe máy khiến H cùng xe máy ngã ra đường, H tiếp tục đứng dậy bỏ chạy thì chị N đuổi theo nắm tay áo của H, thì H rút dao quơ trước mặt Như để hù dọa rồi bỏ chạy, chị N tiếp tục đuổi theo và giằng co với H, trong lúc giằng co để tẩu thoát thì H làm áo của chị N bị rách. Khi H bỏ chạy đến trước số C L, phường S, quận T, thì bị chị N và người dân bắt giữ giao cho Công an phường S xử lý.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Nguyễn Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt xe gắn máy trị giá 30.800.000 đồng và khi bị truy đuổi bị cáo đã có hành vi dùng dao quơ về phía bị hại nhằm mục đích tẩu thoát là thuộc trường hợp hành hung để tẩu thoát nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Trần Nguyễn Trọng H theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 27/02/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G thời gian 15 tháng; ngày 05/7/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 18/3/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2023, bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Sonic do chị N sử dụng và anh Q đứng tên chủ sở hữu, đã thu hồi trả lại cho anh Q. Anh Q và chị N không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 xe gắn máy hiệu Honda Sonic, biển số: 59P2-712.86, số khung: 1115JK145311, số máy: KB11B1144611, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 862132062169915, H sử dụng để liên lạc với M; đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh diễn biến vụ trộm cắp tài sản (kèm theo hồ sơ vụ án) là vật chứng nên tiếp tục lưu hồ sơ.
  • - 01 áo thun ngắn tay, màu trắng bị rách dưới hông trái phía sau, là trang phục chị N mặc khi giằng co với H; 01 con dao bấm bằng kim loại, chiều dài khoảng 25cm; 01 tay vặn đảo chiều bằng kim loại, dài khoảng 16cm; 01 đầu đoản bằng kim loại, dài khoảng 08cm; 01 đầu đoản bằng kim loại, dài khoảng 6,5cm; 01 thanh kim loại hình trụ vuông, dài khoảng 4cm; 01 quần jean dài, màu đen, 01 áo sơ mi caro dài tay, màu đen trắng, 01 áo thun ngắn tay, màu đen, bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội và vật chứng hiện nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Đối với đối tượng tên M do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào điều tra, làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Trọng H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  3. Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Trọng H 03 (ba) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2023.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay, màu trắng bị rách dưới hông trái phía sau, là trang phục chị N mặc khi giằng co với H; 01 (một) con dao bấm bằng kim loại, chiều dài khoảng 25cm; 01 (một) tay vặn đảo chiều bằng kim loại, dài khoảng 16cm; 01 (một) đầu đoản bằng kim loại, dài khoảng 08cm; 01 (một) đầu đoản bằng kim loại, dài khoảng 6,5cm; 01 (một) thanh kim loại hình trụ vuông, dài khoảng 4cm; 01 (một) quần jean dài, màu đen, 01 (một) áo sơ mi caro dài tay, màu đen trắng, 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen.
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số I: 862132062169915.
  6. (Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 163/PNK ngày 13/9/2023 của Công an quận T).
  7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Trần Nguyễn Trọng H nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Hoàng Lâm

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Người tham gia tố tụng
  • - TAND TP . Hồ Chí Minh
  • - VKS Q.Tân Phú.
  • - THA quận Tân Phú.
  • - Công an Q. Tân Phú
  • - Công an TP . Hồ Chí Minh
  • - Sở Tư pháp TP . HCM
  • - Lưu hồ sơ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2023/HSST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 187/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger