TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số:187/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 476/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QĐST – DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: Số I, đường T, tổ B, khu phố C, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Bị đơn: Ông Tôn Đức H, sinh năm 1971; địa chỉ: Số D, đường H, tổ A, khu phố E, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty Cổ phần Đ1; địa chỉ: Ô, lô B, đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ1: Ông Lê Công Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: Số B X, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.
+ Công ty Cổ phần D; địa chỉ: Lô J, đường N, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ1: Ông Lê Công Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: Số B X, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.
+ Bà Lê Thị N1, sinh năm 1973; địa chỉ: Số D, đường H, tổ A, khu phố E, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Tôn Quang T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số G, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29/4/2021, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị N trình bày:
Nguyên đơn với bị đơn ông Tôn Đức H là bà con họ hàng với nhau. Do quen biết nên nguyên đơn có nhờ ông H tìm và giới thiệu cho nguyên đơn nhận chuyển nhượng 01 thửa đất với giá khoảng 800.000.000 đồng. Bị đơn ông H đã giới thiệu cho nguyên đơn thửa đất tọa lạc tại: Lô A, ô số A, đường D, dự án B (thuộc hợp đồng nguyên tắc về quyền sử dụng đất và bất động sản hình thành trong tương lai giữa Công ty Cổ phần Đ1 và Ông Tôn Đức H ngày 08/01/2018) với giá 740.000.000 đồng.
Ngày 12/01/2020, nguyên đơn ký hợp đồng đặt cọc với ông Tôn Đức H thửa đất nói trên với số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng. Theo nội dung các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc đến ngày 31/03/2020, ông Tôn Đức H có trách nhiệm ra Văn phòng công chứng chuyển nhượng thửa đất và bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Nếu sau ngày 31/03/2020, ông H không thực hiện thủ tục công chứng chuyển nhượng thửa đất và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn thì ông H phải trả lại số tiền cọc và chịu phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn đã giao đủ số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) cho ông Tôn Đức H, trong đó chuyển khoản là 477.000.000 đồng và giao tiền mặt là 23.000.000 đồng. Từ ngày 31/03/2020, nguyên đơn đã liên lạc với ông H để yêu cầu thực hiện công chứng thửa đất và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn nhưng ông H cố tình né tránh không thực hiện.
Do đó, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn ông Tôn Đức H với các yêu cầu sau:
Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 12/01/2020 và yêu cầu ông Tôn Đức H có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền đã đặt cọc là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Bồi thường số tiền phạt cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) do ông Tôn Đức H không thực hiện thực hiện công chứng chuyển nhượng thửa đất và bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo đúng thời hạn quy định trong hợp đồng.
Do nguyên đơn chỉ có chứng cứ về việc chuyển khoản cho ông H số tiền đặt cọc là 477.000.000 đồng nên nguyên đơn tự nguyện rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 23.000.000 đồng và rút một phần yêu cầu khởi kiện đối yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền phạt cọc 100.000.000 đồng.
Nguyên đơn xác định rõ yêu cầu khởi kiện của mình yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 12/01/2020 và buộc ông Tôn Đức H phải trả cho nguyên đơn số tiền 477.000.000 đồng.
Đối với bị đơn ông Tôn Đức H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng: Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm cho ông Tôn Đức H theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng: Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm cho bà Lê Thị N1 theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1 không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ1 ông Lê Công Đ trình bày:
Ngày 20/12/2017, Công ty Cổ phần Đ1 (sau đây viết tắt là Công ty Đ1) là chủ đầu tư dự án khu nhà ở nông thôn A tại xã A, thị xã B (nay là phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Ngày 08/01/2018, Công ty Đ1 và ông Tôn Đức H ký kết hợp đồng nguyên tắc số 240/2018/HĐNT – AÐ/TL (Hợp đồng nguyên tắc) liên quan thửa đất tại Lô A8, ô số 12, diện tích 100m² thuộc dự án A, giá trị hợp đồng 644.000.000 đồng. Thông qua Công ty Cổ phần D, ông H đã thanh toán cho Công ty Đ1 95% giá trị hợp đồng với số tiền 611.800.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị N đối với bị đơn ông Tôn Đức H, Công ty Đ1 không có ý kiến gì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần D trình bày:
Ngày 20/12/2017, Công ty Cổ phần Đ1 (sau đây viết tắt là Công ty Đ1) và Cổ phần Dịch vụ Thương mại và xây dựng địa ốc D (sau đây viết tắt là Công ty D) ký kết Hợp đồng dịch vụ số 014/2017/HĐDV – TL/KO về việc giới thiệu và tìm kiếm khách hàng tiềm năng có nhu cầu giao dịch bất động sản thuộc dự án khu nhà ở nông thôn A tại xã A, thị xã B (nay là phường A, thành phố B), tỉnh Bình Dương. Cùng ngày, Công ty Đ1 lập giấy ủy quyền số 12/2017/GUQ – TL về việc ủy quyền cho Công ty D thay mặt và nhân danh Công ty Đ1 ký phiếu đăng ký chọn vị trí, phiếu xác nhận giao dịch và thu tiền đặt chỗ cũng như các đợt thanh toán tiền ứng trước của khách hàng theo Hợp đồng được ký kết giữa Công ty Đ1 và khách hàng. Ngày 08/01/2018, Công ty Đ1 và ông Tôn Đức H ký kết hợp đồng nguyên tắc số 240/2018/HĐNT – AÐ/TL (Hợp đồng nguyên tắc) đối với thửa đất tại Lô A8, ô số 12, diện tích 100m² thuộc dự án A, giá trị hợp đồng 644.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng nguyên tắc, ông H đã thanh toán cho Công ty Đ1 95% (do Công ty D thu hộ) giá trị hợp đồng với tổng số tiền 611.800.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị N đối với bị đơn ông Tôn Đức H, Công ty D không có ý kiến đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án người làm chứng ông Tôn Quang T trình bày:
Ông T là cháu ruột của bà Bùi Thị N, ông Tôn Đức H là anh em họ hàng với ông T. Ngày 12/01/2020, bà Bùi Thị N và ông Tôn Đức H có ký kết hợp đồng đặt cọc về việc bà N nhận chuyển nhượng thửa đất của ông H đối với: Lô A8, ô số A, đường D dự án B. Ông T biết địa chỉ của ông H là số nhà D đường H, tổ A, khu phố E, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vì ông H là anh em họ hàng với nhau. Ông T chỉ biết bà Bùi Thị N và ông Tôn Đức H ký kết hợp đồng đặt cọc tại quán cà phê là chỗ chi nhánh V giao dịch của ông Tôn Đức H tại thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương. Vì thời gian đã lâu nên ông T không nhớ chính xác địa chỉ cụ thể. Ông không có chứng kiến việc bà N giao tiền đặt cọc cho ông H tại ngày các bên ký hợp đồng đặt cọc, bản thân ông chỉ nge các bên nói là tiền đặt cọc bà N sẽ chuyển khoản cho ông H, còn việc bà N có chuyển khoản cho ông H hay không thì ông không biết, ông có nge các bên nói lại với số tiền các bên thỏa thuận đặt cọc là 500.000.000 đồng.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương:
Về thủ tục: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, Công ty Cổ phần Đ1 và Công ty Cổ phần D đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn ông Tôn Đức H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1 chưa thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Ại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì thêm.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên hủy hợp đồng mua bán nhà đất ngày 12/01/2020 được ký kết giữa bà Bùi Thị N với ông Tôn Đức H và buộc bị đơn phải trả lại số tiền cọc 477.000.000 đồng cho bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Tôn Đức H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1 vắng mặt không có lý do; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ1 và Công ty Cổ phần D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
[1.2] Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị rút một phần yêu câu khởi kiện đối yêu cầu buộc bị đơn phải bồi thường số tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng và số tiền 23.000.000 đồng. Xét việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử theo quy đinh tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà đất lập ngày 12/01/2020, giữa bà Bùi Thị N với ông Tôn Đức H về hình thức là phù hợp với quy định tại Điều 119 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc là để đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất tại Lô A, ô số A, đường D dự án B thuộc Hợp đồng nguyên tắc về quyền sử dụng đất và bất động sản hình thành trong tương lai giữa Công ty Cổ phần Đ1 với ông Tôn Đức H ngày 08/01/2018. Tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, bà Bùi Thị N và ông Tôn Đức H tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, không bị ép buộc. Các bên giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên đều xác nhận đối tượng của hợp đồng là có thật. Phần đất chuyển nhượng đã được và ông Tôn Đức H và Công ty Đ1 ký kết hợp đồng nguyên tắc số 240/2018/HĐNT – AÐ/TL (Hợp đồng nguyên tắc) đối với thửa đất tại Lô A8, ô số 12, diện tích 100m² thuộc dự án A, giá trị hợp đồng 644.000.000 đồng, ông H đã thanh toán cho Công ty Đ1 95% (do Công ty D thu hộ) giá trị hợp đồng với tổng số tiền 611.800.000 đồng, do vậy đối tượng giao dịch của hợp đồng đặt cọc không vi phạm quy định của pháp luật.
[2.2] Về tính pháp lý của hợp đồng:
Nội dung Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất ngày 12/01/2020 thể hiện nguyên đơn và bị đơn đặt cọc mua bán phần đất thuộc lô A8, ô số A, đường D dự án B thuộc Hợp đồng nguyên tắc về quyền sử dụng đất và bất động sản hình thành trong tương lai giữa Công ty Cổ phần Đ1 với ông Tôn Đức H ngày 08/01/2018. Căn cứ vào giao dịch chuyển khoản do nguyên đơn bà N cung cấp thể hiện việc nguyên đơn bà N thực hiện chuyển khoản cho bị đơn ông H vào ngày 11/01/2020 và ngày 13/01/2020 với tổng số tiền chuyển khoản 477.000.000 đồng với nội dung “Bui Thi N2 dat cho chu T1 tien dat A8, ô số 12 ben cat city 2” chứng minh các bên ký kết hợp đồng đặt cọc với mục đích đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất tại Lô A, ô số A, đường D dự án B.
Theo nội dung Hợp đồng đặt cọc ngày 12/01/2020 thể hiện “Đến ngày 31/03/2020 bên B (ông H) phải trả lại số tiền đặt cọc và một khoản tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho bên A (bà N2) trong trường hợp bên B từ chối việc giao kết hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự đã thỏa thuận tại Điều 3 (mục đích đặt cọc không đạt được”. Người làm chứng ông T cũng thừa nhận vào ngày 12/01/2020, bà Bùi Thị N và ông Tôn Đức H có ký kết hợp đồng đặt cọc về việc bà N cam kết mua thửa đất của ông H đối với Lô A8, ô số 12, đường D dự án B (thuộc hợp đồng nguyên tắc về quyền sử dụng đất và bất động sản hình thành trong tương lai giữa Công ty Cổ phần Đ1 và ông Tôn Đức H ngày 08/01/2018. Từ chứng cứ trên thể hiện hai bên thỏa thuận thời hạn công chứng hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 31/03/2020 và hoàn tất thủ tục để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Theo Văn bản trình bày ý kiến đề ngày 08/5/2024 của người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ1 và Công ty Cổ phần D trình bày cho đến nay Lô A8, ô số A, đường D1 dự án B vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều này thể hiện đến ngày 31/03/2020, thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị đơn ông H không thể thực hiện các giao dịch liên quan đến thửa đất số nói trên cho nguyên đơn bà N. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đến ngày 31/03/2020, bị đơn ông H không thể thực hiện nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc mà các bên đã ký kết, điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên việc nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà, đất được ký kết ngày 12/01/2020 trả lại số tiền cọc là 477.000.000 đồng cho nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Do bị đơn ông H vắng mặt tại địa phương nên Tòa án tiến hành giám định chữ ký của ông Tôn Đức H theo hợp đồng đặt cọc mà các bên đã ký kết. Theo Kết luận giám định số 2045/KL – KTHS ngày 16/6/2024 của phòng K Công an tỉnh B xác định chữ ký, chữ viết họ tên Tôn Đức H dưới mục “Bên B” trên Hợp đồng đặt cọc đề ngày 12/01/2020 (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết họ tên Tôn Đức H trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) do cùng một người ký và viết ra. Căn cứ vào nội dung của Hợp đồng đặt cọc mà hai bên đã ký kết, lệnh chuyển khoản; kết luận giám định cũng như lời trình bày của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ1 và Công ty Cổ phần D có đủ cở xác định có giao dịch đặt cọc giữa các bên và thể hiện nguyên đơn bà N đặt cọc cho bị đơn số tiền 477.000.000 đồng do đó cần buộc bị đơn ông H trả lại cho nguyên đơn số tiền 477.000.000 đồng mà nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn.
[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về chi phí giám định: Số tiền 1.530.000 đồng (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) nguyên đơn bà Bùi Thị N đã đóng tạm ứng, bị đơn có trách nhiệm hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn bà Bùi Thị N.
[5] Về án phí dân sự: Ông Tôn Đức H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Bùi Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Bùi Thị N số tiền tạm ứng án phí 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0057158, ngày 09/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229, 238, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 119, 328, 423, 424, 427 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị N đối với bị đơn ông Tôn Đức H về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà đất ngày 12 tháng 01 năm 2020 được ký kết giữa bà Bùi Thị N với ông Tôn Đức H.
Buộc ông Tôn Đức H có trách nhiệm trả cho bà Bùi Thị N số tiền 477.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu yêu cầu buộc bị đơn phải bồi thường số tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng).
- Về chi phí giám định: Số tiền 1.530.000 đồng (một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) nguyên đơn bà Bùi Thị N đã đóng tạm ứng, bị đơn ông Tôn Đức H có trách nhiệm hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn bà Bùi Thị N.
- Về án phí dân sự: Ông Tôn Đức H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Bùi Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Bùi Thị N số tiền tạm ứng án phí 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0057158, ngày 09/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hoa |
Bản án số 187/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 187/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
