|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 187/2024/HS - ST Ngày: 29 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Bà Hoàng Thị Thoa |
| Các Hội thẩm nhân dân |
Ông Nguyễn Sơn Hoá Bà Bùi Thị Bích Vân |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Bà Hoàng Thị Bích Huệ |
Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 29/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2024/HSST ngày 26/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HS ngày 15/7/2024, đối với bị cáo có lý lịch như sau:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN Q, sinh năm 1982.
Hộ khẩu thường trú: Tổ 31, Đ, quận H, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số 72, Ngõ 48, T, Phường Đ, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C; Con bà: Nguyễn Thị L; Vợ: Hoàng Thị T; Con: 04 (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án.
- - Bản án số 55/2016/HSST ngày 02/02/2016 của TAND Quận Thanh Xuân xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích).
Nhân thân:
- - Bản án số 530/2010/HSST ngày 22/11/2010 của TAND Quận Đống Đa xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích).
- - Bản án số 46/2013/HSST ngày 07/2/2013 của TAND Quận Hoàng Mai xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã xoá án tích).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – CATP Hà Nội (có mặt tại phiên toà).
Người bị hại:
- Chị Trần Thị A, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thắng Cựu, Phú Xuân, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Anh Chu Thế T, sinh năm 1982; Địa chỉ: C53C2, Chùa Bộc, Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số 8, Ngõ 99/110/65 Định C, phường Đ, quận H, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 03 giờ 11 phút ngày 15/11/2023, Nguyễn Văn Q đi đến khu nhà trọ ở Số 99/110/65, phố Định Công Hạ, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì thấy phòng trọ tại tầng 1 của chị Trần Thị A (Sinh năm 1998) không khóa cửa. Quyền quan sát xung quanh thấy không có người nên mở cửa phòng vào trong dắt chiếc xe máy nhãn hiệu Hon-da Vision màu đỏ-nâu-đen biển kiểm soát 17B9-437.45 ra ngoài rồi đi khỏi hiện trường. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, Quyền dắt chiếc xe máy của chị An đến quán nước ven hồ Định Công, gặp bạn xã hội tên là Tuấn Anh (Hiện chưa xác minh được nhân thân). Quyền nói dối Tuấn Anh xe trên là của vợ Quyền, do đang cần tiền nên đem cầm cố với giá 7.000.000 đồng và hẹn sẽ nói với vợ liên lạc chuộc lại xe. Do tin lời Quyền nên Tuấn Anh đồng ý cầm cố xe trên. Sau đó, vợ của Quyền là chị Hoàng Thị Thiện biết việc Quyền trộm cắp xe máy, đã liên lạc yêu cầu Quyền trả lại xe cho chị An nên Quyền gửi cho chị số điện thoại 0921.517.xxx của Tuấn Anh. Sau đó, chị Thiện đã liên lạc qua zalo đăng ký theo số điện thoại trên với đối tượng có tên zalo là “Tuấn A” để thỏa thuận chuộc lại xe với số tiền phải trả là 8.000.000 đồng. Đối tượng trên yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản 0630106926003 mang tên “Nguyen Thi Ha” mở tại Ngân hàng MB Bank và cung cấp địa chỉ nhận xe tại Số 216, phố Trương Định. Chị Thiện đã chuyển tiền theo yêu cầu và báo chị Trần Thị A đem chìa khóa và giấy tờ xe đến địa chỉ trên để nhận lại xe. Khi chị An đến địa chỉ trên thì được một người đàn ông không quen biết (Hiện chưa xác định được nhân thân) giao xe và chị An đã đem xe trên đến Cơ quan điều tra giao lại vật chứng để phục vụ điều tra.
Tiếp đó, hồi 15 giờ ngày 15/01/2024, Nguyễn Văn Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave ZX màu trắng biển kiểm soát 33R2-0193 đến cửa hàng sửa chữa và mua bán xe máy của anh Chu Thế T(sinh năm 1982) tại Đường 2,5 đối diện cây xăng phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, Quyền vờ hỏi mua chiếc xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave màu đỏ biển kiểm soát 29Y7-341.86 đang để tại cửa hàng. Hai bên thỏa thuận giá bán xe trên là 11.500.000 đồng. Thỏa thuận xong, Quyền yêu cầu anh Thành cho mượn giấy chứng nhận đăng ký xe trên để kiểm tra, đồng thời yêu cầu cho Quyền lái thử. Sau khi được anh Thành đồng ý giao xe và đăng ký xe trên mang tên Nguyễn Văn Tựa (sinh năm 1987, trú tại thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội), Quyền để lại chiếc xe máy của mình ở cửa hàng để làm tin, rồi điều khiển chiếc xe máy của anh Thành đem đến quán nước ven hồ Định Công bán cho đối tượng đàn ông không quen biết với giá 5.000.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 07/3/2024 bị cáo ra tự thú hành vi phạm tội.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ:
- - Thu do Nguyễn Văn Q giao nộp: 01 áo phao và 01 quần bò đều màu xanh nước biển. Quyền khai nhận là bộ quần áo sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- - Thu do chị Trần Thị A giao nộp: 01 xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ nâu đen biển kiểm soát 17B9-437.45, số khung RLHJK0311MZ339645, số máy JK03E6051920.
- - Thu do anh Chu Thế Tgiao nộp: 01 xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Wave ZX biển kiểm soát 33R2-0193 màu trắng, số máy 243160, số khung 243160 là chiếc xe máy Quyền để lại cửa hàng của anh Thành.
Quá trình điều tra còn thu giữ 01 đoạn hình ảnh do máy ghi hình an ninh ghi lại diễn biến hành vi Quyền trộm cắp chiếc xe máy của chị An.
Ngoài ra, vật chứng của vụ án còn có chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ biển kiểm soát 29Y7-341.86 do Quyền chiếm đoạt của anh Chu Thế Tvà đã bán cho đối tượng không quen biết nên không thu giữ được.
Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá đối với các tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án. Tại các Kết luận định giá tài sản số 277/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2023 và số 41/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 17B9-437.45 (Tài sản trộm cắp trộm cắp của chị Trần Thị An) trị giá 25.000.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave biển kiểm soát 29Y7-341.86 (Tài sản lừa đảo chiếm đoạt của anh Chu Thế Thành) trị giá 11.000.000đồng.
Kết quả xác minh đối tượng có tên Tuấn Anh đã nhận cầm cố xe của Nguyễn Văn Quyền, người đứng tên đăng ký thuê bao số điện thoại 0921.517.xxx là chị Vũ Thị Thùy Dung (Sinh năm 1984, HKTT Thôn 4, xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Chị Dung trình bày, chị đăng ký thuê bao số điện thoại trên từ khoảng năm 2018, nhưng sau đó đã bán cho khách hàng nhưng không nhớ thông tin người mua. Hiện chị Dung không biết người nào đang sử dụng số điện thoại trên. Người đứng tên đăng ký số tài khoản 0630106926003 là chị Nguyễn Thị Hà (Sinh năm 1982, HKTT số 63, đường Giáp Bát, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội). Chị Hà trình bày, bản thân làm nghề chuyển khoản, nạp, rút tiền cho khách để hưởng phí dịch vụ nên không nhớ giao dịch chuyển tiền do hàng ngày phải giao dịch nhiều khách hàng. Do đó, không có cơ sở xác định đối tượng đã nhận cầm cố xe máy với Quyền.
Chị Hoàng Thị Thiện đã tự nguyện bỏ ra số tiền 8.000.000đồng để chuộc xe do Quyền trộm cắp về trả lại cho người bị hại. Chị Thiện hiện là vợ hợp pháp của bị cáo Quyền, chị Thiện không yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền trên.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave ZX biển kiểm soát 33R2-0193 đã thu giữ, Quyền khai mua của người không quen biết. Khi mua có đăng ký xe nhưng Quyền đã để thất lạc. Kết quả tra cứu người đứng tên đăng ký xe trên là chị Lưu Thị Vui (Sinh năm 1985, HKTT: xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội), tuy nhiên kết quả xác minh tại địa phương trên không xác định được người có tên trên sinh sống. Cơ quan điều tra đã tra cứu chiếc xe máy trên không phải là tang vật trong vụ án nào khác. Hiện Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sở hữu hợp pháp từ ngày 29/4/2024.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng:
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại chị Trần Thị A chiếc xe máy bị trộm cắp đã thu giữ nêu trên. Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, chị An không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ biển kiểm soát 29Y7-341.86 do Quyền chiếm đoạt của anh Chu Thế Thiện không thu giữ được. Anh Thành yêu cầu bồi thường trị giá xe trên theo kết quả định giá là 11.000.000đồng.
Số vật chứng đã thu giữ còn lại gồm: 01 xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Wave ZX màu trắng biển kiểm soát 33R2-0193, số máy 243160, số khung 243160; 01 áo phao và 01 quần bò đều màu xanh nước biển được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai để chờ quyết định xử lý. Đoạn hình ảnh ghi lại diễn biến hành vi Quyền trộm cắp chiếc xe máy của chị An được chuyển làm tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của Quyền phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai của những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 124/CT-VKSHM ngày 23/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo Quyền thừa nhận việc bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đảo tài sản” là đúng người, đúng tội, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 18 đến 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 14 đến 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai tội từ 32 đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trần Thị A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xét. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Chu Thế Tsố tiền 11.000.000đồng là giá trị chiếc xe máy bị cáo đã chiếm đoạt hiện không thu hồi được. Đối với số tiền 8.000.000đồng chị Thiện là vợ bị cáo bỏ tiền ra chuộc xe cho chị Trần Thị An, chị Thiện không yêu cầu bị cáo phải thanh toán hoàn lại cho chị Thiện nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Wave ZX biển kiểm soát 33R2-0193, số máy 243160, số khung 243160 bị cáo để lại cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Tịch thu tiêu huỷ 01 áo phao màu xanh nước biển, 01 quần bò màu xanh nước biển của bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, kết luận giám định, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 03 giờ 11 phút ngày 15/11/2023, tại tầng 1 khu nhà trọ ở địa chỉ số 99/110/65, phố Định Công Hạ, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Văn Q đã có hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt của chị Trần Thị A 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 17B9-437.45 trị giá 25.000.00 đồng. Sau đó, Quyền đem xe trên đi cầm cố lấy số tiền 7.000.000đồng và chi tiêu cá nhân hết. Tiếp đó, khoảng 15 giờ ngày 15/01/2024, Nguyễn Văn Q đến cửa hàng sửa chữa và mua bán xe máy của anh Chu Thế Ttại Đường vành đai 2,5 đối diện cây xăng Định Công, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Quyền dùng thủ đoạn gian dối giả vờ là khách mua xe, để lại chiếc xe máy cũ của Quyền lại làm tin sau đó chiếm đoạt của anh Thành 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29Y7-341.86 trị giá 11.000.000đồng rồi đem bán cho đối tượng đàn ông không quen biết với giá 5.000.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi nhưng do lười lao động, không chịu tu dưỡng bản thân, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã tìm sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp và dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại.
Về nhân thân, bị cáo có 02 tiền án năm 2010 và năm 2013 mặc dù đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn lười lao động, thích hưởng thụ nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân rất xấu và coi thường pháp luật. Do vậy cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để tiếp tục cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.
Các tình tiết tăng nặng:
- Năm 2016 bị cáo bị xử phạt 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý hiện chưa được xoá án tích nên lần này phạm tội bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với tài sản trong vụ “Trộm cắp tài sản” đã trả lại cho bị hại Trần Thị An, chị Hoàng Thị T vợ hợp pháp của bị cáo tự nguyện bỏ tiền ra chuộc xe để trả cho chị An. Bị cáo xác nhận không phải do bị cáo tác động chị Thiện chuộc xe để khắc phục hậu quả cho bị cáo nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave ZX biển kiểm soát 33R2-0193, số máy VZS152GMH243160, số khung RLWCHSUM7B243160 mang tên Lưu Thị Vui mà bị cáo để lại cửa hàng của anh Thành để làm tin. Quá trình điều tra bị cáo Quyền không chứng minh được đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, mặt khác đối với chủ sở hữu đứng tên đăng ký chiếc xe máy tên Lưu Thị Vui hiện không xác định được thông tin. Cơ quan điều tra đã tra cứu thông tin thể hiện chiếc xe máy này không phải là tang vật trong vụ án khác và đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu từ ngày 29/4/2024. Do vậy cần tiếp tục đăng báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng tin đầu tiên 29/4/2024, nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự:
Trong vụ án Trộm cắp tài sản, bị hại là chị Trần Thị A đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xét.
Trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo chưa bồi thường cho bị hại là anh Chu Thế Thành. Anh Thành yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe máy đã chiếm đoạt là 11.000.000đồng do tài sản chưa thu hồi được. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 11.000.000đồng cho anh Thành.
[5]. Các vấn đề khác:
Đối với chị Hoàng Thị Thiện là vợ hợp pháp bị cáo đã tự nguyện bỏ số tiền 8.000.000đồng để chuộc chiếc xe mà bị cáo trộm cắp trả cho bị hại chị Trần Thị An. Quá trình điều tra chị Thiện không có đề nghị gì đối với bị cáo liên quan đến số tiền trên nên không xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Về xử lý vật chứng:
- Tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave ZX biển kiểm soát 33R2- 0193, số máy VZS152GMH243160, số khung RLWCHSUM7B243160 màu trắng, mang tên Lưu Thị Vui. Sau 01 năm kể từ ngày đăng tin đầu tiên 29/4/2024, nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải bồi thường cho bị hại anh Chu Thế Tsố tiền 11.000.000đồng (Mười một triệu đồng).
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thoa |
Bản án số 187/2024/HS - ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 187/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
