Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH


Bản án số: 187/2023/HSST

Ngày: 27/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Đỗ Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2023/QĐXXST ngày 01 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/HSST-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Đức T, sinh ngày 17/11/2005. Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 11/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Hoàng L, sinh năm 1968, con bà Đỗ Thị H, sinh năm 1972, đều trú tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  2. Nguyễn Kỳ S, sinh ngày 05/5/2006. Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Hiện đang là học sinh lớp 12A7 Trường THPT D5. Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981, con bà Phạm Thị N, sinh năm 1985, hiện trú tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  3. Ngô Duy Đ, sinh ngày 25/9/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, Hiện đang là học sinh lớp 12A5 Trường THPT D5. Con ông Ngô Văn T2, sinh năm 1973, con bà Trần Thị T3, sinh năm 1975, đều trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  4. Nguyễn Huy A, sinh ngày 07/12/2005. Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do, con ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1981, con bà Trịnh Thị T4, sinh năm 1985, đều trú tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  5. Phạm Đình Tiến P, sinh ngày 19/10/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Hiện đang là học sinh lớp 12C2 Trường THPT D5. Con ông Phạm Hồng C, sinh năm 1968, con bà Tạ Thị T5, sinh năm 1970, đều trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  6. Giang Quốc T6, sinh ngày 05/3/2007. Nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, Hiện đang là học sinh lớp 11D5 Trường THPT T17. Con ông Giang Văn T7, sinh năm 1981, con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984, đều trú tại thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  7. Lê Trọng N1, sinh ngày 02/3/2006. Nơi cư trú: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Hiện đang là học sinh lớp 12A2 Trường THPT T17. Con ông Lê Kiên C1, sinh năm 1975, con bà Vũ Thị H2, sinh năm 1984, đều trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  8. Giang Văn L1, sinh ngày 07/3/2007. Nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Hiện đang là học sinh lớp 11D4 Trường THPT T17. Con ông Giang Văn T8, sinh năm 1975, con bà Trương Thị T9, sinh năm 1979, đều trú tại thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  9. Nguyễn Thành T10, sinh ngày 28/5/2005. Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do, con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1962, con bà Tạ Thị N2, sinh năm 1963, đều trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  10. Lưu Hồng A1, sinh ngày 01/02/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Hiện đang là học sinh lớp 12A7 Trường THPT D5. Con ông Lưu Văn K, sinh năm 1977, con bà Vũ Thị N3, sinh năm 1982, đều trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  11. Bùi Đức T11, sinh ngày 10/3/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Hiện đang là học sinh lớp 12A9 Trường THPT T17. Con ông Bùi Đình T12, sinh năm 1980, con bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1981, đều trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  12. Trần Đức L2, sinh ngày 10/5/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Hiện đang là học sinh lớp 12A7 Trường THPT D5. Con ông Trần Ngọc B, sinh năm 1969, con bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1974, đều trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  13. Phan Văn N5, sinh ngày 15/12/2006. Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, hiện đang là học sinh lớp 12A7 Trường THPT D5. Con ông Phan Văn G, sinh năm 1972, con bà Cao Thị V, sinh năm 1976, đều trú tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  14. Phạm Đình Đ1, sinh ngày 10/11/2005. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 12/12, hiện đang là sinh viên trường Đại học P2 - Hà Nội. Con ông Phạm Văn K1, sinh năm 1981; họ tên mẹ: Vũ Thị Q, sinh năm 1983, đều trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  15. Trần Bình D1, sinh ngày 24/3/2006. Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, hiện đang là học lớp 12A7 Trường THPT D5. Con ông Trần Thanh B1, sinh năm 1972, con bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1984, đều trú tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Bị hại: Lê Trọng N1, sinh ngày 02/3/2006 (đồng thời là bị cáo trong vụ án). Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Kiên C1, sinh năm 1975 và bà Vũ Thị H2 – sinh năm 1984 (bố mẹ bị hại Lê Trọng N1). Đều có nơi cư trú: tại Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ, Nguyễn Huy A, Phạm Đình Tiến P, Lê Trọng N1, Nguyễn Thành T10, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1, Trần Bình D1: Bà Nguyễn Thị Bích T13 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T

- Người bào chữa của các bị cáo: Giang Văn L1, Giang Quốc T6: Bà Nguyễn Thị H4 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Trọng N1: Ông Nguyễn Anh S1 – Luật sư thuộc Văn phòng L4 – Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số B, Tòa C, khu đô thị D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T10: Bà Nguyễn Thị P1 – Luật sư thuộc Văn phòng L4 – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Số B, Tòa CT7E, khu đô thị D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức T và Ngô Duy Đ: Ông Nguyễn Hồng H5 – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Hồng H5 và cộng sự - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Số F, phố M, M, N, Hà Nội. (Những người bào chữa đều có mặt)

* Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1985 (bố, mẹ bị cáo Nguyễn Kỳ S). Đều cư trú tại Thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Ngô Văn T2, sinh năm 1973 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1975 (bố mẹ bị cáo Ngô Duy Đ). Đều cư trú tại Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Phạm Hồng C, sinh năm 1968 và bà Tạ Thị T5, sinh năm 1970 (bố mẹ bị cáo Phạm Đình Tiến P). Đều cư trú tại Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Giang Văn T7, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984 (bố mẹ bị cáo Giang Quốc T6). Đều cư trú tại Thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Lê Kiên C1, sinh năm 1975 và bà Vũ Thị H2, sinh năm 1984 (bố mẹ bị cáo Lê Trọng N1). Đều cư trú tại Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Ông Lưu Văn K, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị N3, sinh năm 1982 (bố mẹ bị cáo Lưu Hồng A1). Đều cư trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Bùi Đình T12, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1981 (bố, mẹ bị cáo Bùi Đức T11). Đều cư trú tại Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Trần Ngọc B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1974 (bố, mẹ bị cáo Trần Đức L2). Đều cư trú tại Thôn T, xã H, huyện T tỉnh Thái Bình

- Ông Phan Văn G, sinh năm 1972 và bà Cao Thị V, sinh năm 1976 (bố, mẹ bị cáo Phan Văn N5). Đều cư trú tại Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Trần Thanh B1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1984 (bố, mẹ bị cáo Trần Bình D1). Đều cư trú tại Thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Ông Giang Văn T8, sinh năm 1975 và bà Trương Thị T9, sinh năm 1979 (bố, mẹ bị cáo Giang Văn L1). Đều cư trú tại Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt: Bà N, bà T3, ông C, bà T5, ông T7, ông C1, bà H2, bà N3, bà N4, ông B, bà H3, bà V, bà L3, bà T9. Vắng mặt: Ông T1, ông T2, bà D, ông K, ông T12, ông G, ông B1, ông T8)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1985. (Là bố mẹ bị cáo Nguyễn Kỳ S). Đều cư trú tại thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Ông: Ngô Văn T2, sinh năm 1973 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1975. (là bố mẹ bị cáo Ngô Duy Đ). Đều cư trú tại: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt: Ông T1, bà T3, bà N. Vắng mặt: ông T2)

* Những người làm chứng: 1. Cháu Vũ Văn T14, sinh ngày 20/9/2007. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. 2. Cháu Phạm Xuân Q1, sinh ngày 19/12/2007. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. 3. Cháu Nguyễn Hải V1, sinh ngày 19/10/2005. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. 4. Cháu Đỗ Minh H6 và cháu Đỗ Minh Q2 đều sinh ngày 14/5/2007. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. 5. Cháu Trần Minh N6, sinh ngày 23/10/2006. Nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. 6. Cháu Hoàng Ngọc V2, sinh ngày 20/5/2006. Nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bà Lê Thị H7, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. 7. Cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 23/01/2007. Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình 8. Cháu Tạ Ngọc N7, sinh ngày 24/5/2007. Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Những người làm chứng đều vắng mặt)

* Đại diện cơ quan, tổ chức và nhà trường nơi các bị cáo chưa đủ 18 tuổi cư trú, học tâp: Đại diện Trường THPT D5: Bà Nguyễn Thị T15 – Bí thư Đoàn thanh niên. Đại diện Trường THPT T17: Bà Lưu Thị D2- Bí thư Đoàn thanh niên. Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H: Ông Tạ Ngọc D3 – Bí thư Đoàn thanh niên. Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã T: Bà Đào Thị Hải Y – Bí thư Đoàn thanh niên Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã T: Bà Nguyễn Thị D4 – Bí thư Đoàn thanh niên.

(Bà D2 có mặt. Vắng mặt bà T15, ông D3, bà Y, bà D4)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 20/4/2023, Trần Minh N6 - học sinh Trường Trung học phổ thông (THPT) Thái Ninh đi học về đến xã T thì gặp Vũ Văn T14 (học cùng trường). Trà chửi N: “Đ... cụ thằng kia”. Đến tối cùng ngày, N6 và T14 nhắn tin qua ứng dụng Messenger chửi nhau.

Sáng ngày 21/4/2023, trước khi đi học, N6 nhắn tin vào nhóm chát ký hiệu “F” trên ứng dụng Messenger, gồm có 11 bạn thân chơi với nhau, trong đó có 08 học sinh Trường THPT D5 gồm (các bị cáo Phạm Đức T, Phạm Đình Đ1, Lưu Hồng A1, Trần Đức L2, Phạm Đình Tiến P, Nguyễn Kỳ S, Trần Bình D1), Hoàng Ngọc V2 và 03 học sinh Trường THPT T17 là Trần Minh N6, Bùi Đức T11 và Phạm Xuân Q1 với nội dung: “Tao bị thằng Trà T 10A3 chửi”, sau đó Nó tắt điện thoại và đến trường.

Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi tan học, N6 và Q1 đi cùng bạn học là 02 anh em sinh đôi Đỗ Minh H6, Đỗ Minh Q2 thì gặp T14 tại lán để xe của Trường THPT T17. N6, Q1, H6 và Q2 dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh Trà. Khi thấy có giáo viên đi đến thì dừng lại. Trà được bạn cùng lớp là Tạ Ngọc N7 chở về; N6 và Q1 ở lại lán xe của trường, khoảng 10 phút sau mới lấy xe và đi về nhà, không đi cùng đường với T14 và N7.

Cũng trong buổi sáng ngày 21/4/2023, nhóm học sinh Trường THPT D5 được tan học sớm, gồm (các bị cáo Phạm Đức T, Phạm Đình Đ1, Lưu Hồng A1, Trần Đức L2, Phạm Đình Tiến P, Nguyễn Kỳ S, Trần Bình D1, Ngô Duy Đ, Phạm Văn N8) và Hoàng Ngọc V2 rủ nhau về sân bóng thôn S, xã H chơi. T về nhà lấy xoài, ổi và 01 con dao dài khoảng 25cm ra sân bóng ngồi gọt hoa quả ăn cùng nhau. Khi đang ngồi chơi, T dùng điện thoại di động cá nhân, mở đọc được tin nhắn của N6 trên nhóm chát “F” rồi nói với cả nhóm: “Thằng T14 nó xích mích, chửi nhau với thằng N6, xuống để giải quyết”, mục đích của T rủ cả nhóm đi đến Trường THPT T17 tìm đánh T14. Cả nhóm đồng ý đi. T cầm dao giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đ1 đi xe gắn máy chở T, Hồng A1 đi xe gắn máy chở D1, L2 đi xe gắn máy chở N8, P đi xe máy điện chở V2, Đ đi xe máy điện chở S. Trên đường đi, do xe của Đ yếu điện nên Đ chở S đi chậm lại phía sau. Võ không có ý định tham gia nên bảo P chở về nhà. Khi về đến nhà, Võ lại đổi ý đi cùng P, mục đích để can ngăn nếu thấy N6 bị T14 đánh (vì V2 và N6 ở cùng thôn, là bạn thân từ nhỏ). P lấy ở nhà V2 01 con dao rựa dài 44cm, khi thấy P lấy dao, V2 ngăn cản và nói: “Để dao ở nhà cho bố tao làm” nhưng P vẫn cầm để vào trong cốp xe máy điện rồi chở V2 đi cùng.

Khi đến gần cổng Trường Mầm non xã T, cách cổng Trường THPT T17 khoảng 100m, T, Đ1, Hồng A1, D1, L2, N8, P và V2 dừng lại, mục đích để đợi N6 tan học. T nhắn tin qua Messenger cho N6: “Mày đang ở đâu, có cần tìm thằng Trà giải quyết không?” nhưng không thấy Nó đọc và trả lời tin nhắn, vì lúc này Nó đã tan học, đi về nhà và tắt điện thoại.

Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, học sinh Trường THPT T17 tan học, có nhiều người và phương tiện tham gia giao thông. Bùi Đức T11 (thành viên trong nhóm chát “F”) đi từ trong trường ra thì gặp nhóm T nên cùng đứng nói chuyện. Khi biết nhóm T đến tìm đánh T14 và nhìn thấy Tạ Ngọc N7 chở T14 đi qua, T11 đã chỉ cho nhóm T và nói: “Trà kìa, Trà kìa”. Cả nhóm đi xe đuổi theo T14 đến khu vực trước cửa nhà bà Lê Thị H7, cách cổng Trường Mầm non xã T khoảng 400m thì nhóm của T vượt lên và chặn xe của T14. Hồng A1, L2, D1, N7 và T11 xông vào dùng tay, chân đấm, đá Trà. T dùng tay tát 01 cái vào mặt T14, đấm 02 đến 03 nhát vào người Trà, đồng thời nhặt 01 đoạn gỗ sơn màu đỏ dài 64,5cm, ở khu vực trước cửa nhà bà H7 đánh vào người T14. P mở cốp xe máy điện lấy con dao rựa cầm trên tay chạy đến giơ lên trước mặt T14 đe dọa: “Mày thích gì, mày có thích đánh nhau không?”. Võ can ngăn nên P cầm dao cất vào trong cốp xe. Lúc này Đ mới chở S đi tới, Đ hỏi: “Đánh xong thằng kia chưa” thì có người trong nhóm nói: “Đánh xong rồi”. Sau đó cả nhóm lên xe bỏ đi về hướng xã T. Do lúc này có nhiều học sinh Trường THPT T17 tan học đi về và dừng lại xem nên P, V2, Đ1 bị vướng xe, không lấy được xe để đi về cùng với nhóm của mình.

Cùng thời điểm này, (các bị cáo Giang Quốc T6, Giang Văn L1, Nguyễn Thành T10) và Trần Ngọc T16 (đều là học sinh Trường THPT T17, là bạn của T14) đi đến. Nhìn thấy P cầm dao đi từ vị trí T14 bị đánh để vào trong cốp xe. T6, L1, T10 và T16 xông vào dùng tay, chân đánh P. Thấy P bị đánh, Đ1 xông vào dùng tay, chân đánh lại nhóm của của T6. Khi T, Hồng A1, D1, N7, L2, S, Đ và T11 đi được khoảng 100m, không thấy P, V2 và Đ1 nên cả nhóm quay lại thì thấy P đang bị đánh thì tiếp tục xảy ra cãi chửi nhau giữa nhóm của T và nhóm của T6. T6 xông vào dùng tay đấm L2, nhóm của T vào can thì bị nhóm của T6 đánh nên cả hai nhóm dùng tay, chân đánh nhau. Khi 02 nhóm đang đánh nhau thì Lê Trọng N1, là bạn của T6 chạy đến nói với T6: “Thằng nào đánh mày, để anh vào anh chắt nó cho”. T6 không nói gì và ném viên gạch trên tay N1 xuống đất. N1 tiếp tục cầm nửa viên gạch bằng bê tông đi đến đập trúng mũ bảo hiểm T đang đội trên đầu. Nhóm của T định xông vào đánh N1 thì N1 ném viên gạch về nhóm T rồi bỏ chạy thì viên gạch trúng vào mũ bảo hiểm của Nguyễn Hải V1, (bạn gái T) đang đội trên đầu. Thấy vậy, T rút con dao từ trong túi quần bên phải ra, cầm ở tay phải đuổi theo N1. Do lúc này học sinh dừng lại xem đông, bị vướng xe, N1 không chạy được nên bị T đuổi kịp, cầm dao chém 01 nhát về phía N1; N1 giơ tay trái nên đỡ thì bị T chém trúng vào cổ tay trái. N1 dùng tay đẩy T, làm cả N1 và T bị ngã ra đường, N1 đè lên người Trung. Đ chạy đến dùng tay, chân đánh N1, S cầm 01 viên gạch nhặt trên đường ở tay phải đánh vào đầu N1 01 nhát. Cùng lúc này Nguyễn Huy A (là bạn của T) tan học về; thấy 02 nhóm đánh nhau, Huy A xông vào dùng tay, chân đánh vào vùng lưng và đầu N1. Các học sinh khác và người dân có mặt can ngăn, kéo N1 và T ra. Nhóm của T lên xe bỏ đi về hướng xã T thì T6 đi xe máy điện chở L1 và T10 ngồi sau cầm gạch đuổi theo. Trên đường đi, L1 và T10 cầm gạch ném trúng N7 và L2, đồng thời hô: “Đ... mẹ, chúng mày đứng lại”. Đuổi theo khoảng 500m thì T6 dừng lại. Hậu quả Lê Trọng N1 bị thương ở vùng đầu và tay trái, điều trị ở Bệnh viện Đ3 và Bệnh viện đa khoa tỉnh T từ ngày 21/4/2023 đến ngày 28/4/2023.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 181/KLTTCT-TTPY ngày 09/5/2023 và Kết luận giám định bổ sung số 219/KLTTCT-TTPY ngày 08/6/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y1 kết luận đối với thương tích của Lê Trọng N1: “Thương tích do vật tầy tác động làm rách da vùng đỉnh chẩm, vật sắc tác động làm rách da vùng cổ tay trái”. Tỷ lệ tổn thương: “vùng đỉnh chẩm có vết sẹo nhỏ: 01%, mặt trước cổ tay trái có vết sẹo nhỏ: 01%, đứt gân gấp cổ tay trụ, khâu phục hồi nối gân gấp di chứng ảnh hưởng đến động tác khớp cổ tay: 06%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định bổ sung là: 08%. Ngày 12/6/2023, Lê Trọng N1 và người giám hộ có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích.

Tại bản cáo trạng số 181/CT- VKSTT ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố :

- Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A về tội “Cố ý gây thương tích”.

Các bị cáo Phạm Đình Tiến P, Giang Quốc T6, Lê Trọng N1, Giang Văn L1, Nguyễn Thành T10; Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1, Trần Bình D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Về hình phạt: + Đối với bị cáo Phạm Đức T: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 các Điều 17, 50, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Đối với các bị cáo Ngô Duy Đ, Nguyễn Kỳ S, Nguyễn Huy A: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, 50, 58, 65, 91, 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.

+ Đối với các bị cáo Giang Quốc T6, Giang Văn L1, Nguyễn Thành T10: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 (bị cáo L1 hưởng thêm 01 tình tiết tại khoản 2 Điều 51 BLHS), các Điều 17, 50, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo từ 01 năm 6 tháng đến 01 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

+ Đối với các bị cáo Lê Trọng N1, Phạm Đình Tiến P: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 (bị cáo P hưởng thêm 01 tình tiết tại khoản 2 Điều 51), các Điều 17, 50, 58, 65, 91, 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 3 năm 06 tháng.

+ Đối với các bị cáo Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51 (bị cáo T11 hưởng thêm tình tiết tại khoản 2 Điều 51), các Điều 17, 50, 58, 65, 91, 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo từ 9 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.

- Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 7 Nghị quyết 02/2022 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đề nghị:

+ Các khoản chi phí hợp lý có hóa đơn, chứng từ cần chấp nhận gồm (chi phí khám, chữa bệnh, điều trị thương tích: 15.340.623 đồng; chi phí thuê phương tiện đi khám, chữa trị: 2.000.000 đồng). Tổng 17.340.623 đồng.

+ Chi phí về thu nhập bị mất của người chăm sóc là mẹ bị cáo N1 bao gồm 7 ngày chăm sóc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T (7 ngày × 400.000 đồng/01 ngày công lao động = 2.800.000 đồng). Đề nghị mức bồi thường từ 2.700.000 đồng đến 2.900.000 đồng.

+ Chi phí bồi thường tổn thất về tinh thần: Tối đa 100% thương tích ≈ 50 tháng lương cơ bản, thương tích của Nghĩa là 08% do đó ≈ 5 tháng lương cơ bản (05 tháng × 1.800.000 đồng) = 9.000.000 đồng. Đề nghị mức bồi thường từ 9.000.000 - 10.000.000 đồng.

+ Đối với chi phí phục hồi sức khỏe, chức năng vận động của N1: Căn cứ vào thương tích của N1 “rách da vùng đỉnh chẩm, đứt gân gấp cổ tay trụ, khâu phục hồi nối gân gấp di chứng ảnh hưởng đến động tác khớp cổ tay – theo Kết luận giám định bổ sung, xác định cần chi phí phục hồi sức khỏe, chức năng vận động do đó cần chấp nhận một phần yêu cầu hợp lý của đại diện người bị hại, đề nghị chấp nhận mức bồi thường từ 9.000.000 - 10.000.000 đồng.

Tuyên các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền từ 38.040.623 – 40.240.623 đồng. Căn cứ vào hành vi của từng bị cáo và hậu quả gây tổn hại về thương tích cho bị hại, đề nghị bị cáo T phải bồi thường cho bị hại số tiền lớn hơn từ 19.040.623 – 20.240.623 đồng, bị cáo T đã bồi thường được số tiền 6.713.623 đồng (tiền viện phí) do đó còn cần bồi thường cho N1 số tiền từ 12.327.000 – 13.527.000 đồng. Ba bị cáo S, Đ và Huy A phải liên đới bồi thường tổng số tiền từ 19.000.000 đồng - 20.120.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gậy gỗ dài 64,5cm, 01 mũ bảo hiểm, 01 mảnh gạch vỡ, 02 mảnh gạch vỡ màu đỏ, 01 con dao bằng kim loại, chiều dài dao 44cm.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo Phạm Đức T,

Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xem xét lại phần trách nhiệm dân sự, không đồng ý với đề nghị bồi thường thiệt hại cho bị hại là Lê Trọng N1.

Người bào chữa cho bị cáo N1 trình bày bản luận tội: Đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX cho bị cáo mức án nhẹ nhất, để bị cáo có thể tiếp tục đi học trở thành người có ích cho xã hội. Về phần trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của người đại diện theo pháp luật của bị hại Lê Trọng N1, buộc yêu cầu các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A phải bồi thường số tiền 93.350.623 đồng, gồm: chi phí khám, chữa bệnh, điều trị thương tích: 15.340.623 đồng; chi phí thuê phương tiện đi khám, chữa trị: 2.000.000 đồng; phục hồi sức khỏe và phục hồi chức năng: 35.510.000 đồng; thu nhập bị mất của người chăm sóc: 15.500.000 đồng; tổn thất tinh thần: 25.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Phạm Đức T đã bồi thường được số tiền 6.713.623 đồng (viện phí), còn phải tiếp tục liên đới bồi thường thêm.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Đức T và Ngô Duy Đ tranh luận: Đồng ý với tội danh trong phần luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tuy nhiên mức hình phạt Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đề ra là nghiêm khắc, các bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn quá trẻ, suy nghĩ bồng bột, hầu hết còn đang đi học, đề nghị HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại địa phương là cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo. Về phần Trách nhiệm dân sự, người đại diện theo pháp luật của bị hại N1 và người bào chữa của bị cáo đề ra như vậy là cao, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành T10 và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo đều phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên nhận thức và hiểu biết của các bị cáo về đời sống xã hội cũng như pháp luật còn rất hạn chế. Bản thân các bị cáo không ý thức được hậu quả pháp lý nghiêm trọng do hành vi của mình gây ra. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo, là cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo. Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dan huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Người đại diện theo pháp luật, người làm chứng vắng mặt nhưng tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án, Đại diện Đoàn thanh niên và nhà trường nơi các bị cáo chưa đủ 18 tuổi cư trú, học tập vắng mặt, nhưng sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên vẫn tiến hành xét xử vụ án

[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản quản lý vật chứng, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Như vậy đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày ngày 21/4/2023, tại trục đường liên xã thuộc thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, sau khi tan học đã xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau giữa các nhóm học sinh của Trường THPT D5 và Trường THPT T17. Nhóm của Phạm Đức T, Phạm Đình Đ1, Lưu Hồng A1, Trần Đức L2, Phạm Đình Tiến P, Nguyễn Kỳ S, Trần Bình D1, Ngô Duy Đ, Phạm Văn N8 và Bùi Đức T11 đi xe máy điện, xe mô tô đuổi, chặn đường, đánh Vũ Văn T14 (trong đó T dùng tay, chân, gậy gỗ đánh T14; Hồng A1, L2, D1, N8 và T11 dùng tay, chân đánh T14; P dùng dao đe dọa). Tiếp đó Giang Quốc T6, Giang Văn L1 và Nguyễn Thành T10 (bạn của T14) dùng tay, chân đánh P. Phạm Đình Đ1 đánh lại nhóm của T6 và tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, xô sát đánh nhau giữa nhóm của T và nhóm của T6. Lê Trọng N1 (bạn của T6) dùng gạch đánh lại T thì bị T, S, Đ và Nguyễn Huy A đánh lại (trong đó T dùng dao chém trúng cổ tay trái của N1, S dùng gạch đập vào vùng đầu của N1, Đ và Huy A dùng tay, chân đánh). Hậu quả Lê Trọng N1 bị thương ở vùng đầu và tay trái, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 08%. Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Đức T, Ngô Duy Đ, Nguyễn Kỳ S và Nguyễn Huy A đã phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Sự việc đuổi đánh nhau giữa các bị cáo, trên trục đường giao thông, khu dân cư sinh sống, ngay sau thời điểm tan học của học sinh Trường THPT T17, nhiều người và phương tiện giao thông qua lại, gây ùn tắc giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Đình Tiến P, Giang Quốc T6, Lê Trọng N1, Giang Văn L1, Nguyễn Thành T10, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”. Trong đó bị cáo P có sử dụng dao, các bị cáo T6, N1, L1 và T10 sử dụng gạch, là loại hung khí nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Hồng A1, T11, L2, N5, Đ1 và D1 đồng phạm với bị cáo P nhưng không biết việc P mang theo dao (hung khí) nên chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người...”.

“Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách...”.

[6]. Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trước và trong khi phạm tội mặc dù các bị cáo có sự rủ rê, lôi kéo để đi đánh nhau, nhưng quá trình phạm tội không có sự bàn bạc, phân công cấu kết chặt chẽ với nhau. Về hành vi gây rối trật tự công cộng nhóm trường THPT D5 có số người tham gia đông, có bị cáo chuẩn bị mang theo dao là hung khí nguy hiểm, có tính sát thương cao hơn nên cần xếp tính chất cao hơn trong vụ án. Trong đó:

- Bị cáo Phạm Đức T là người khởi xướng, mang 01 con dao gọt hoa quả cất giấu trong người và chủ động rủ rê, lôi kéo bị cáo khác đi xuống trường THPT T17 để giải quyết mâu thuẫn, mục đích chính là xuống để tìm đánh T14 vì nghĩ rằng T14 có xích mích với Trần Minh N6 là bạn của T. T có hành vi tham gia cùng nhóm bạn mình chặn đường, trực tiếp dùng tay chân, gậy gỗ nhặt được trên đường đánh Trà, sử dụng dao gọt hoa quả mang theo chém 01 nhát vào cổ tay trái của N1 gây thương tích, do đó T giữ vai trò chính trong vụ án này.

- Các bị cáo Nguyễn Thành T10, Giang Quốc T6, Giang Văn L1, Lê Trọng N1 mặc dù không có sự bàn bạc từ trước nhưng khi thấy bạn mình là Vũ Văn T14 bị đánh đã dừng xe và tham gia vào vụ việc. Trong đó T10, T6, L1 có hành vi chửi bới, dùng tay chân đánh P. N1 có hành vi sử dụng gạch nhặt ở đường ném vào người T và Nguyễn Hải V1 là nguyên nhân dẫn đến việc N1 bị T, Đ, S, Huy A dùng dao, gạch, tay chân đánh gây thương tích. T10, T6, L1 sau khi thấy nhóm T lên xe bỏ đi thì tiếp tục lấy xe mô tô đuổi theo trên đoạn đường khoảng 500m, khi đuổi theo các bị cáo hò hét, chửi bới, cầm theo gạch ném về nhóm của T đang bỏ chạy phía trước. Đối với Phạm Đình Tiến P tham gia khi được T rủ rê tham gia cùng, bị cáo mang theo 01 con dao, tham gia đuổi theo T14, lấy dao từ trong cốp xe máy điện ra, giơ trước mặt đe dọa T14. Các bị cáo T10, T6, L1, N1, P thực hiện hành vi đều sử dụng hung khí, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm hơn so với các bị cáo khác nên cần xác định các bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

- Các bị cáo Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm với bị cáo Phạm Đức T về hành vi Cố ý gây thương tích. Khi thấy T dùng dao chém N1, N1 dùng tay giữ tay, cổ và nằm đè lên người T thì S đi đến nhặt 01 viên gạch đập vào vùng đầu N1, đồng thời lúc này Đ, Huy A lao đến dùng tay chân đánh vào vùng đầu, lưng N1 gây tổng thương tích 08%. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho sức khỏe của người khác, cùng đồng phạm về hành vi Cố ý gây thương tích và phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả xảy ra do đó xác định bị cáo Đ, S, Huy A giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

- Các bị cáo Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Trần Bình D1, Phạm Đình Đ1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò ngang nhau, đều thực hiện hành vi đuổi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn so với các bị cáo khác do đó giữ vai trò thấp nhất trong vụ án.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi nên các bị cáo được áp dụng quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Đức T, Ngô Duy Đ, Nguyễn Kỳ S, Nguyễn Huy A, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo T11, Hồng A1, L2, N5, Đ1, D1, P, L1, S, Huy A có ông nội, ông ngoại được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến và là người có công nới cách mạng. Do đó các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần thiết phải quyết định tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Phạm Đức T, Giang Quốc T6, Giang Văn L1, Nguyễn Thành T10 khi phạm tội tuy còn đang trong độ tuổi thành niên nhưng các bị cáo giữ vai trò chính, tích cực nhất trong vụ án nên cần phải xử lý nghiêm minh, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian với có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Còn đối với các bị cáo Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ, Nguyễn Huy A, Lê Trọng N1, Phạm Đình Tiến P, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu, đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, hiện đều đang là học sinh lớp 12. Xét thấy, không cần thiết bắt các bị cáo trên phải cách ly khỏi đời sống xã hội vì các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ, Nguyễn Huy A, Lê Trọng N1, Phạm Đình Tiến P, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1 được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, để các bị cáo nhận ra lỗi lầm đã phạm phải để phấn đấu trở thành công dân tốt.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã quản lý thu 01 đoạn gậy gỗ, dài 64,5cm; 03 mảnh gạch vỡ; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa; 01 con dao dài 44cm. Xét thấy, đây là công cụ phạm tội và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bào chữa và người đại diện theo pháp luật của bị hại Lê Trọng N1 yêu cầu các bị cáo và người đại diện theo pháp luật của các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ, Nguyễn Huy A phải liên đới bồi thường cho bị hại là Lê Trọng N1 tổng số tiền là 93.350.623 đồng, bao gồm:

Chi phí khám, chữa bệnh, điều trị thương tích: 15.340.623 đồng; chi phí thuê phương tiện đi khám, chữa trị: 2.000.000 đồng; phục hồi sức khỏe và phục hồi chức năng: 35.510.000 đồng; thu nhập bị mất của người chăm sóc: 15.500.000 đồng; tổn thất tinh thần: 25.000.000 đồng.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 7 Nghị quyết 02/2022 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và chấp nhận những chi phí thực tế sau đây:

+ Các khoản chi phí hợp lý có hóa đơn, chứng từ gồm (chi phí khám, chữa bệnh, điều trị thương tích: 15.340.623 đồng; chi phí thuê phương tiện đi khám, chữa trị: 2.000.000 đồng). Tổng 17.340.623 đồng.

+ Chi phí về thu nhập bị mất của người chăm sóc là mẹ bị cáo N1 (mẹ bị cáo N1 làm nghề chăm sóc sắc đẹp) 7 ngày × 500.000 đồng/01 ngày công lao động = 3.500.000 đồng.

+ Chi phí bồi thường tổn thất về tinh thần: Theo quy định pháp luật mức bồi thường tối đa về tổn thất tinh thấn không quá 50 tháng lương cơ bản, thương tích của Nghĩa là 08%, do đó chấp nhận một phần đề nghị bồi thường, tương đương 05 tháng lương cơ bản 05 tháng × 1.800.000 đồng = 9.000.000 đồng.

+ Đối với chi phí phục hồi sức khỏe, chức năng vận động của N1: Thương tích của bị cáo N1 “rách da vùng đỉnh chẩm, đứt gân gấp cổ tay trụ, khâu phục hồi nối gân gấp di chứng ảnh hưởng đến động tác khớp cổ tay – theo Kết luận giám định bổ sung, cần chi phí phục hồi sức khỏe, chức năng vận động. Do đó cần chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường cho bị hại số tiền là 10.000.000 đồng. Tổng số tiền buộc các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A phải bồi thường cho bị hại là 39.840.623 đồng. Bị cáo Phạm Đức T là người trực tiếp chém Lê Trọng N1, nên bị cáo T phải chịu mức bồi thường cao hơn so với các bị cáo còn lại. Vì vây, cần buộc bị cáo T phải bồi thường ½ trong tổng số 39.840.623 đồng. (39.840.623 đồng : 2 = 19.920.000 đồng). Ba bị cáo S, Đ và Huy A, mỗi bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền (19.920.000 đồng : 3) là 6.640.000 đồng) cho bị hại là Lê Trọng N1. Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho bị hại số tiền 6.713.623 đồng (tiền viện phí).

Do các bị cáo Nguyễn Kỳ S và Ngô Huy Đ2 phạm tội tại thời điểm xét xử chưa đủ 18 tuổi, trường hợp các bị cáo S, Đ2 không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường cho anh Lê Trọng N1 thì bố mẹ các bị cáo S, Đ2 phải tiếp tục bồi thường cho anh N1

[9]. Đối với Trần Minh N6, Phạm Xuân Q1, Đỗ Minh H6 và Đỗ Minh Q2: Nhật có mâu thuẫn với Vũ Văn T14; sau khi tan học N6 cùng Q1, H6 và Q2 dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh Trà tại lán để xe của Trường THPT T17 nhưng chưa gây thương tích cho T14; sự việc xảy ra tại lán để xe trong trường, không có học sinh khác biết nên hành vi của N6, Q1, H6 và Q2 không cấu thành tội Cố ý gây thương tích hoặc tội Gây rối trật tự công cộng. Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N6, Q1, H6 và Q2 là đúng quy định. Việc sáng ngày 21/4/2023, N6 nhắn tin trong nhóm chát “F” với nội dung: “Tao bị thằng Trà T 10A3 chửi”, sau đó N6 tắt điện thoại rồi đi học, mục đích của Nó là kể cho các bạn trong nhóm biết việc bị Trà chửi; không có hành vi rủ rê, lôi kéo, kích động các bạn trong nhóm đánh T14 và cũng không biết việc các đối tượng đánh Trà, do vậy Nó không đồng phạm trong vụ án này.

Đối với Hoàng Ngọc V2 ngay từ đầu không có ý định tham gia đánh Trà; trong khi các nhóm đuổi, đánh nhau, Võ can n, không tham gia đánh nhau, không hò hét, cổ vũ, xúi dục. Do vậy Võ không đồng phạm trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét, xử lý là đúng pháp luật.

Đối với Trần Ngọc T16 cùng với các bị cáo T6, L1 và T10 dùng tay, chân đánh Phạm Đình Tiến P. Tại thời điểm xảy ra vụ án, T16 chưa đủ 16 tuổi (mới 15 tuổi 6 tháng 16 ngày) nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng. Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:.

QUYẾT ĐỊNH.

  1. Tuyên bố:

    Các bị cáo Phạm Đức T, Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo Phạm Đình Tiến P, Giang Quốc T6, Lê Trọng N1, Giang Văn L1 và Nguyễn Thành T10 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
      1. Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
    • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự (Đối với các bị cáo S, Đ, A)
      1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kỳ S 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      2. Xử phạt bị cáo Ngô Duy Đ 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy A 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. (Đối với các bị cáo T6, T10 và L1).
      1. Xử phạt bị cáo Giang Quốc T6 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
      2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T10 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
      3. Xử phạt bị cáo Giang Văn L1 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
    • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. (Đối với các bị cáo N1, P).
      1. Xử phạt bị cáo Lê Trọng N1 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      2. Xử phạt bị cáo Phạm Đình Tiến P 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 318, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. (Đối với các bị cáo T11, L2, N5, Đ1, A, D1).
      1. Xử phạt bị cáo Bùi Đức T11 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      2. Xử phạt bị cáo Trần Đức L2 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      3. Xử phạt bị cáo Phan Văn N5 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      4. Xử phạt bị cáo Phạm Đình Đ1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      5. Xử phạt bị cáo Lưu Hồng A1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách 01 năm 02 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      6. Xử phạt bị cáo Trần Bình D1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ, Nguyễn Huy A, Phạm Đình Tiến P, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phạm Đình Đ1, Trần Bình D1 Phạm cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Lê Trọng N1 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Phan Văn N5 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện T, tỉnh Thái Bình thì Uỷ ban nhân dân cấp xã trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện T, tỉnh Thái Bình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gậy gỗ dài 64,5cm; 01 mũ bảo hiểm loại ½ đầu, bằng nhựa; 03 mảnh gạch vỡ, 01 con dao bằng kim loại dài dao 44cm. (Tất cả vật chứng nên trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2023 giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh thái Bình )

  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự 2015.

    Buộc bị cáo Phạm Đức T phải bồi thường cho Lê Trọng N1 số tiền (19.920.000 – 6.712.623) là 13.207.000 đồng

    Buộc bị cáo Nguyễn Huy A phải bồi thường cho Lê Trọng N1 số tiền là 6.640.000 đồng

    Buộc bị cáo Nguyễn Kỳ S phải bồi thường cho Lê Trọng N1 số tiền là 6.640.000 đồng. Trường hợp bị cáo S không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì bố mẹ bị cáo S là ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị N phải tiếp tục bồi thường đủ cho anh Lê Trọng N1 số tiền là 6.640.000 đồng

    Buộc bị cáo Ngô Duy Đ phải bồi thường cho Lê Trọng N1 số tiền là 6.640.000 đồng. Trường hợp bị cáo Đ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì bố mẹ bị cáo Đ là ông Ngô Văn T2 và bà Trần Thị T3 phải tiếp tục bồi thường đủ cho anh Lê Trọng N1 số tiền là 6.640.000 đồng

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

  5. Về án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Phạm Đức T, Ngô Duy Đ, Nguyễn Kỳ S, Nguyễn Huy A, Phạm Đình Tiến P, Giang Quốc T6, Lê Trọng N1, Giang Văn L1, Nguyễn Thành T10, Lưu Hồng A1, Bùi Đức T11, Trần Đức L2, Phan Văn N5, Phạm Đình Đ1 và Trần Bình D1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

    Bị cáo Phạm Đức T phải chịu 660.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm;

    Bị cáo Nguyễn Kỳ S, Ngô Duy Đ và Nguyễn Huy A, mỗi bị cáo phải chịu 332.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

    Các bị cáo, bị hại, người bào chữa, người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận

  • - VKSND huyện Thái Thụy
  • - Chi cục THA huyện Thái Thụy
  • - TAND tỉnh Thái Bình.
  • - Cơ quan THAHS
  • - Bị cáo; Người bào chữa
  • - Người có QLNVLQ
  • - Người đại diện theo pháp luật
  • - Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 187/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức T và đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích, Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger