|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-7-2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 176/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thái M, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh JANG UN IL, sinh năm 1971; nơi cư trú: 13-6 J-ro 3ga-gil, J-gu, S, Hàn Quốc; vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Trần Thị Thái M trình bày:
Chị Trần Thị Thái M và anh Jang Un I kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/8/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống ở Việt Nam một thời gian ngắn sau đó anh Jang U Il quay trở lại Hàn Quốc để sinh sống. Do vợ chồng mỗi người ở một nơi, tình cảm ngày càng phai nhạt, dần ít liên lạc với nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn ngắn, bất đồng quan điểm sống, bất đồng về ngôn ngữ, chênh lệch tuổi tác quá lớn nên tính cách, lối sống khác nhau. Hai bên gia đình đã cố gắng hòa giải nhưng không đạt kết quả. Vì vậy, chị M quyết định không sang Hàn Quốc để đoàn tụ vợ chồng. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên chị M đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị M được ly hôn với anh Jang Un I.
Về con chung: Chị M và anh J1 Un Il không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thái M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là anh Jang Un I trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Jang Un I thống nhất với lời trình bày của chị Trần Thị Thái M về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chông không còn và không có khả năng đoàn tụ, anh J1 Un Il đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh J1 Un Il được ly hôn với chị Trần Thị Thái M.
Về con chung: Anh Jang Un I và chị M không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Jang Un I không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Thái M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Jang Un I. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Nguyên đơn là chị Trần Thị Thái M có nơi cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh Jang Un I hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Trần Thị Thái M và anh Jang U II vắng mặt, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh Jang Un I.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thái M và anh Jang Un I kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/8/2023. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn, chị M và anh Jang U Il sống mỗi người một nơi, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn ngắn nên không hiểu hết về nhau, bất đồng quan điểm sống, bất đồng về ngôn ngữ, chênh lệch tuổi tác quá lớn nên tính cách, lối sống khác nhau. Dù hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không đạt kết quả. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến ai nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thái M về việc xin ly hôn với anh Jang Un I.
[4] Về con chung: Chị Trần Thị Thái M và anh Jang Un I cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thái M và anh J1 Un Il không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Thái M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thái M và anh J1 Un Il được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thái M.
I.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thái M được ly hôn anh Jang Un I.
- Về con chung: Chị Trần Thị Thái M và anh Jang Un I cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thái M và anh J1 Un Il không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Thái M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000461 ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị Thái M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị Thái M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Anh Jang Un I được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 187/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 187/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
