Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2024/HS-PT

Ngày: 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.

Các Thẩm phán: 1. Ông Phạm Viết Hùng

2. Bà Lê Thị Thương Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 146/2024/HSPT ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thị Huyền S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thị Huyền S; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 19/10/1999 tại tỉnh H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, phường A, thành phố H, tỉnh T; Nơi cư trú: 3 N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Lê Quang B, sinh năm 1965 và bà Lê Thị N, sinh năm 1970; Bị cáo có 01 người con sinh ngày 28/3/2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Thị Huyền S đã cất giữ 01 gói nylon đựng tinh thể không màu và 01 gói nylon đựng 01 viên nén màu vàng, 02 mảnh vụn viên nén màu vàng (S khai là ma túy) bên trong túi treo nhỏ bên ngoài túi xách của S để trên kệ gỗ tại phòng A, nhà số A C, phường N, Quận A để sử dụng khi cần thiết. Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 01/10/2023, ông Nguyễn Đức C (sống chung với S nhưng không đăng ký kết hôn) phát hiện số ma túy trên nên đã báo cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với đội Điều tra tổng hợp và Công an phường N, Quận A xuống kiểm tra, thu giữ toàn bộ vật chứng, mời ông C, bà Trương Thị H (là người được ông C thuê trông giữ con chung của ông C và S) và Lê Thị Huyền S về Công an phường Nguyễn Cư T làm việc, sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận A giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận giám định số 10098/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, các chữ ký người chứng kiến ghi tên Nguyễn Đức C, Trương Thị H và hình dấu Công an phường N, Quận A, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,5919 gam, loại Ketamine; 01 viên nén màu vàng và 02 mảnh vụn viên nén màu vàng đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 0,7155 gam, loại MDMA, Ketamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Thị Huyền S khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của S phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật thu giữ; các biên bản đối chất, nhận dạng; kết luận giám định; kết quả trích xuất hình ảnh camera, lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Đối với đối tượng tên H1 là người đã đưa số ma túy thu giữ được cho Lê Thị Huyền S cất giữ để sử dụng, qua điều tra chưa xác định được lai lịch. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt Lê Thị Huyền S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành án. Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/3/2024, bị cáo Lê Thị Huyền S có đơn kháng cáo đề nghị xem xét cho bị cáo được chuyển án giam thành án treo cùng thời hạn hoặc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiêm tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lê Thị Huyền S trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ vì hiện tại bị cáo đang là mẹ đơn thân và đang nuôi con nhỏ, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Lê Thị Huyền S tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp, không nặng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo Lê Thị Huyền S không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
  2. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị Huyền S tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

    Vào khoảng 05 giờ 00 ngày 01/10/2023 tại phòng 1A, nhà số A C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra phường Nguyễn Cư T phát hiện bắt quả tang Lê Thị Huyền S có hành vi cất giấu 0,5919 gam Ketamine và 0,7155 gam MDMA, Ketamine. Bị cáo S mua ma túy về để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán.

    Do đó hành vi của bị cáo Lê Thị Huyền S đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  3. Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị Huyền S xin được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ, vì bị cáo đang là mẹ đơn thân và đang nuôi con nhỏ.

    Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xét về hoàn cảnh của bị cáo: Bị cáo có con nhỏ sinh ngày 28/3/2021, hiện tại con của bị cáo đang sống với cha và ông bà nội tại Thừa Thiên – Huế; nên không có cơ sở xem xét chấp nhận lời khai của bị cáo.

    Hội đồng xét xử xét thấy mức án 1 năm 6 tháng tù là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc hình phạt “Cải tạo không giam giữ” nhưng không xuất trình tình tiết nào mới để xem xét. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Huyền S.

  4. Lập luận trên là căn cứ để chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Về án phí: Bị cáo Lê Thị Huyền S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Huyền S; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Lê Thị Huyền S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm) đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC; (1)
  • - TAND Cấp Cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; (2)
  • - VKSND TP.HCM; (2)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - P.PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - TAND Quận 1; (1)
  • - VKSND Quận 1; (1)
  • - Công an Quận 1; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 1; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (22). (1)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Uyên Thy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (phúc thẩm)

  • Số bản án: 187/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Huyền S; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger