|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/DS-ST
Ngày: 22-4-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 684/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1988
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền:
+ Ông Đỗ Thanh B, sinh năm 1997
Địa chỉ: Số C, đường N, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
+ Bà Phạm Hồng Nhã P, sinh năm 2000
Địa chỉ: Số H, đường số F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
(Theo giấy ủy quyền ngày 15/3/2023, số công chứng 000917, quyển số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1)
2. Bị đơn: Ông Điêu Hồng C, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số E, đường L, Tổ A, khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Ánh H, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số A, đường N, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 15 tháng 11 năm 2022, lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A có người đại diện theo ủy quyền ông Đỗ Thanh B trình bày:
Ngày 28/02/2022, bà A có cho ông C vay số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), giữa bà A và ông C có viết “Giấy mượn tiền” ngày 28/02/2022. Ông C có thế chấp cho bà A 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 để đảm bảo khoản vay. Bà A và ông C không có hẹn thời gian trả tiền. Hai bên có thuận lại suất miệng 6%/tháng. Ông C có trả lãi cho bà A được 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng) của tháng 3/2022. Sau đó, ông C không trả lãi cũng như tiền gốc cho bà A nữa.
Bà A thấy ông C không trả tiền nên tháng 11/2022, bà đã nhắc nhở ông C nhiều lần nhưng ông C cố tình tránh né không trả tiền. Do bà A cần tiền để xoay sở nên bà A nộp đơn yêu cầu Tòa án buộc ông C phải có trách nhiệm trả lại cho bà A số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất. Bà A sẽ trả lại cho ông C và bà H 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018. Khi bà A cho ông C mượn tiền chỉ có cá nhân ông C nhận tiền và ký giấy mượn tiền nên bà A chỉ yêu cầu ông C chịu trách nhiệm trả mà không yêu cầu bà H chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà A.
Tại phiên tòa, bà A, người đại diện theo ủy quyền của bà A nhận thấy việc cho vay 6%/tháng là vượt quá lãi suất 20%/năm do Bộ luật dân sự quy định nên bà A tự nguyện trừ số tiền lãi đã nhận của ông C là 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng) vào số tiền lãi lẽ ra bà nhận đúng theo quy định của pháp luật là 3.320.000₫ (Ba triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng), còn lại 8.680.000₫ (Tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) được trừ vào số tiền gốc 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), số tiền bà A yêu cầu ông C phải trả cho bà số tiền 191.320.000đ (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
Bị đơn ông Điêu Hồng C đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 02 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ánh H trình bày:
Bà và ông C có đăng ký kết hôn vào năm 2003, tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C. Do hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên bà và ông C đã ly hôn và có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 718 vào ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Bà xác định giữa bà và ông C không có khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, ông C mượn bà Ngọc A số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) là cá nhân của ông C không liên quan đến bà, bà hoàn toàn không biết việc mượn tiền của ông C. Vì vậy, bà không liên quan đến số nợ của ông C. Tuy nhiên, ông C đã lấy 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp mang tên bà (Võ Thị Ánh H) và ông Điêu Hồng C để thế chấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc A.
Vào ngày 18/8/2022, bà Ngọc A có cùng một số người đến nhà tìm ông Điêu Hồng C để thông báo đòi ông C trả tiền đã vay của bà Ngọc A. Cụ thể số tiền bà Ngọc A đòi ông C bao nhiêu thì bà không nắm rõ. Gia đình bà có nhắc nhở phía bà A hạn chế tập trung đến nhà bà để gia đình còn buôn bán kiếm sống nhưng phía bà A cứ thỉnh thoảng đến yêu cầu ông C trả tiền, thời điểm đó ông C bỏ đi đâu bà không rõ. Bà A cũng bắt gia đình bà trả tiền thay cho ông C, tuy nhiên khoản nợ này của cá nhân ông C không liên quan đến bà và gia đình nên bà và gia đình không đồng ý trả. Bà cũng xác định là bà A có thông báo ông C trả nợ cho bà A trước khi bà A nộp đơn khởi kiện ông C đến Tòa án.
Ông C tự ý thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà và ông C cùng đứng tên mà không cho bà biết, điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà. Nay bà đề nghị Tòa án yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc A có trách nhiệm trả lại bà bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp mang tên bà (Võ Thị Ánh H) và ông Điêu Hồng C. Bà xác nhận, bà chỉ đề nghị bà A trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà không làm đơn khởi kiện yêu cầu độc lập đối với bà Nguyễn Thị Ngọc A trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát huyện C phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không làm ảnh hưởng đến tính khách quan, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 28/02/2022 thể hiện ông Điêu Hồng C có vay của bà Nguyễn Thị Ngọc A số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Ông C thế chấp cho bà A 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 979, tờ bản đồ số 15, Xóm Đ, T, G, Tây Ninh. Việc vay tiền không thể hiện lãi suất và thời hạn vay, do đó, đây là hợp đồng vay không kỳ hạn. Theo quy định tại Điều 469 Bộ luật Dân sự, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho bên vay biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Căn cứ Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, việc thế chấp quyền sử dụng đất phải đăng ký giao dịch đảm bảo và có hiệu lực từ khi đăng ký thế chấp. Do đó, việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất giữa bà A và ông C là vô hiệu.
Căn cứ vào lời khai của bà Võ Thị Ánh H thể hiện, vào ngày 18/8/2022, bà Ngọc A có cùng một số người đến nhà bà tìm ông Điêu Hồng C để đòi ông C trả tiền, nhưng thời điểm đó ông C đã bỏ đi đâu bà không rõ, bà A cũng bắt gia đình trả nợ thay ông C nhưng bà H không trả vì bà H không liên quan đến khoản nợ này, sau đó bà A cũng đã nhiều lần đến nhà nhắc việc trả nợ. Như vậy, ông C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, việc bà A đến nhà ông C đòi lại số tiền vay được coi là bà A đã thông báo yêu câu ông C trả nợ, phù hợp với quy định tại Điều 469 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên tòa, bà A xác định đã nhận được số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) tiền lãi do ông C trả. Bà A nhận thấy tiền lãi đã vượt quá 20%/năm nên nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 191.320.000₫ (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
Nhận thấy, yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.
Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 357; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2022, bà Nguyễn Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Điêu Hồng C trả số tiền là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn là ông C có nơi cư trú Tổ A, khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông C đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Bà Phạm Hồng N P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ánh H đều có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P, bà H.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên không xét.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn ông C trả lại số tiền đã vay theo giấy “Giấy mượn tiền” ngày 28/02/2022 là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), tại phiên tòa, nguyên đơn xác định yêu cầu ông C trả số tiền 191.320.000đ (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) và không yêu cầu tính lãi suất. Như vậy, yêu cầu này của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định:
[4.1] Căn cứ vào giấy “Giấy mượn tiền” ngày 28/02/2022 do nguyên đơn cung cấp, có chữ ký của ông Điêu Hồng C xác nhận có mượn của bà Ngọc A số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), tuy nhiên bà A và ông C không thỏa thuận thời hạn trả tiền. Ông C có thế chấp cho bà Ngọc A 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018. Như vậy, ông C có vay bà A số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) là đúng sự thật.
Quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông C đến Tòa án giải quyết những vấn đề phát sinh, tuy nhiên ông C không gửi tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với vụ kiện. Trong hồ sơ vụ án không thể hiện ông C đã trả tiền cho bà Ngọc A. Do đó, không có cơ sở xác định ông C đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền của ông. Tuy nhiên, bà A xác định ông C có trả cho bà 01 lần tiền lãi của tháng 3/2022 là 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng) từ lúc vay cho đến nay nhưng các bên không lập lại biên bản ghi nhận sự việc. Tại phiên tòa, bà A cũng xác định do bà và ông C thỏa thuận lãi suất vượt quá 20%/năm do Bộ luật dân sự quy định nên bà cũng tự nguyện trừ số tiền lãi vượt quá vào số tiền gốc, còn lại bà chỉ yêu cầu ông C trả bà số tiền 191.320.000đ (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Việc xác nhận này của bà A là có lợi cho bị đơn nên ghi nhận ý kiến này của nguyên đơn là phù hợp.
Ông C không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời kéo dài thời gian trả tiền làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà A. Xét thấy, bà A chỉ yêu cầu cá nhân ông C trả bà số tiền 191.320.000₫ (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) mà không yêu cầu cá nhân nào khác liên đới chịu trách nhiệm với ông C. Do khi cho ông C vay tiền, bà A chỉ giao tiền cho ông C và chỉ có ông C ký tên vay tiền. Bà H xác định trong thời kỳ hôn nhân với ông C bà không có nợ chung với ông C. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ buộc cá nhân ông C có trách nhiệm trả tiền cho bà A là phù hợp.
[4.2] Xét bà H có yêu cầu bà A trả lại 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà (Võ Thị Ánh H). Ngày 15/8/2023, Tòa án đã lập biên bản giải thích cho bà H quyền làm đơn yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn. Bà H xác định không khởi kiện yêu cầu độc lập nên không nộp đơn. Mặc dù ông C không có đơn yêu cầu phản tố, bà H không có đơn yêu cầu độc lập đối với bà A. Tuy nhiên để vụ án được giải quyết triệt để, Hội đồng xét xử cần xem xét đề nghị của bà H yêu cầu bà A trả lại 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 trong cùng vụ án này.
Xét khi vay tiền bà A, ông C có thế chấp cho bà A 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018. Ông C là người đồng quản lý, sử dụng đất cùng với bà H, đây là tài sản chung của vợ chồng ông C và bà H trong thời kỳ hôn nhân, thuộc sở hữu chung hợp nhất theo quy định tại Điều 33, Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, ông C tự ý đem thế chấp cho bà A để vay 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình trong trường vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi. Theo quy định của Điều 4 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm; quy định tại Điều 22 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp đối với tài sản là bất động sản. Do đó, việc ông C thế chấp cho bà A 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào số cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 là vô hiệu. Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý trả lại cho bà H, ông C 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018.
Do đó, bà H đề nghị bà A trả lại 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 là có cơ sở để buộc bà A trả lại 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 cho bà H, ông C.
Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm 9.566.000đ (Chín triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) theo quy định là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 463, 466, 468 và 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 6, 7, 26, 30, 31 và Điều 32 của Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc A, buộc ông Điêu Hồng C có trách nhiệm trả cho bà A số tiền 191.320.000đ (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng), trả ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bà A có trách nhiệm giao trả lại cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 9.566.000đ (Chín triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng), buộc ông C phải chịu.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày bà A có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông C chưa thi hành trả số tiền nêu trên thì hàng tháng ông C còn phải trả cho bà A tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trong trường hợp bà A không thực hiện giao trả cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H 01 bản chính giấy nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 979, tờ bản đồ số 15, số vào sổ cấp GCN: CS05891 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho ông Điêu Hồng C, bà Võ Thị Ánh H ngày 05/7/2018 thì ông C, bà H được quyền đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp phó bản giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật (Luật đất đai, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và các quy định khác của pháp luật có liên quan)
Hoàn trả lại cho bà A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0020446 ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Trần Thị Túy Phượng |
Bản án số 187/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 187/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
