Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Toàn

2. Ông Lê Đức Thành

- Thư ký Toà án: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Bảo T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07/3/1992; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Vũ Văn L; Con bà: Nguyễn Thị X; Vợ: Không có; Có 01 con sinh năm 2012;

Tiền án: 01, cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2021/HS-ST ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Vũ Bảo T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án ngày 15/5/2023 nên chưa được xóa án tích theo quy định.

Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H; sinh năm 1974; Nơi cư trú: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

- Người làm chứng: anh Mai Hồng Q; sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Bảo T, sinh năm 1992, trú tại tại xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, là đối tượng không có nghề nghiệp, công ăn việc làm ổn định. Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 07/09/2024 T đi bộ từ xóm T về nhà, khi đi qua nhà ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974, tại xóm N, xã P (là cậu ruột của T), T thấy cổng nhà ông H không khoá, T gọi vào bên trong nhà thì không thấy ai trả lời, Thạch định đi về thì quan sát thấy tại sân nhà ông H có dựng 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 20N7-5866, xe vẫn cắm chìa khóa trên ổ khóa. Lúc này T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản mang đi bán lấy tiền tiêu xài, lợi dụng khi không có ai trông coi chiếc xe mô tô trên, T đã đi vào sân, mở khóa xe và điều khiển xe đi về hướng xóm N rồi đi huyện Đ. Khi đi đến thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, T vào một quán cầm đồ để cầm cố chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được, tuy nhiên chủ quán không đồng ý vì xe không có giấy tờ. Sau đó T tiếp tục điều khiển xe mô tô qua thành phố T rồi về khu vực xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, T vào cửa hàng mua bán xe máy Dưỡng T tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên rồi bán lại chiếc xe mô tô trên cho chủ cửa hàng là anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992, trú tại xóm Đ, xã T, P, Thái Nguyên với giá là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Bán được xe mô tô trên, T bắt xe ôm về thành phố P rồi vào cửa hàng điện thoại mua 01 (Một) chiếc điện thoại Vivo Y15S màu xanh đã qua sử dụng với giá tiền là 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) và 01 (Một) sim điện thoại số 0585.552.xxx của nhà mạng VietNam Mobile với giá 100,000đ (Một trăm nghìn đồng), sau đó T đi bộ tới khu vực Lê Hồng P, phường B để chơi game hết 200,000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại T sử dụng mua đồ ăn và nước uống hết.

Sau khi phát hiện chiếc xe mô tô của mình bị mất, ông Nguyễn Văn H nghi ngờ Vũ Bảo T đã trộm cắp chiếc xe mô tô của mình nên ngày 09/9/2024 ông đã làm đơn trình báo đến Công an xã P, thành phố P để đề nghị giải quyết. Công an xã P đã tiến hành triệu tập Vũ Bảo T đến trụ sở làm việc, tại đây T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 10/9/2024 anh Nguyễn Văn D đã giao nộp cho Công an xã P (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS 20N7-5866 để phục vụ quá trình điều tra, giải quyết vụ án. Sau đó Công an xã P đã bàn giao hồ sơ vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 96/KLĐG ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P đã kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, mầu sơn nâu, biển kiểm soát 20N7-5866, số khung: Y061077, số máy: A08E – 1361005, xe mô tô đã qua sử dụng, được đăng ký vào ngày 17/11/2010, xe cũ đã qua sử dụng, tình trạng xe hoạt động bình thường. Có giá trị còn lại là 14,500,000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, mầu nâu, biển kiểm soát 20N7-5866, số khung: Y061077, số máy: A08E – 1361005, xe mô tô đã qua sử dụng, được đăng ký vào ngày 17 tháng 11 năm 2010, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn H nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố P đã trả lại tài sản cho ông H quản lý, sử dụng;
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y 15S, màu xanh, số IMEI1: 867251052253706, số IMEI2: 867251052253714, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vietnam Mobile có số thuê bao 0585.552.233, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là ông Nguyễn Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn D không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự đối với Vũ Bảo T.

Do có hành vi nêu trên nên tại bản Cáo trạng số: 187/CT-VKSPY ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Vũ Bảo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng số: 187/CT-VKSPY ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Bảo T về tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt:
    1. Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    2. Xử phạt: Bị cáo Vũ Bảo T từ 15 tháng đến 18 tháng tù giam.

    3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15S, màu xanh, số IMEI1: 867251052253706, số IMEI2: 867251052253714 bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vietnam Mobile có số thuê bao 0585.552.233.
  5. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận việc điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị hại nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sớm trở về với gia đình và cộng đồng, sửa chữa lỗi lầm, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, bản kết luận định giá tài sản.... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do bản thân không có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 07/9/2024 tại xóm N, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Vũ Bảo T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, mầu sơn nâu, biển kiểm soát 20N7-5866, số khung: Y061077, số máy: A08E – 1361005 đăng ký vào ngày 17/11/2010, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 14,500,000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Văn H. Sau đó T mang chiếc xe trên bán lại cho anh Nguyễn Văn D thu lời số tiền 2,000,000₫ (Hai triệu đồng), số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 09/9/2024 T bị cơ quan Công an xã P triệu tập đến trụ sở làm việc, tại Cơ quan Công an Thạch đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Hành vi, ý thức của bị cáo Vũ Bảo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số: 187/CT-VKSPY ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Vũ Bảo T về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể, nội dung điều luật quy định:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3]. Xét các yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

  • - Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về tội phạm cùng loại, cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2021/HS-ST ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Vũ Bảo T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án ngày 15/5/2023 nên chưa được xóa án tích theo quy định. Do đó bị cáo là người có nhân thân xấu.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là “Tái phạm”, bởi lẽ: Ngày 30/3/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên kết án 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2021/HS-ST ngày 30/3/2021, đến ngày 15/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt của bản án trên, sau đó đến ngày 07/9/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện tội phạm. Do vậy, đối chiếu với quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 73 Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ cho bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tại phiên tòa bị hại là ông Nguyễn Văn H có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ, do vậy cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện, để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Mặt khác, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng có thời gian phải đi chấp hành án phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng, rèn luyện. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét thấy, quan điểm về việc giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo nên không xem xét giải quyết

[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, mầu nâu, biển kiểm soát 20N7-5866, số khung: Y061077, số máy: A08E – 1361005, xe mô tô đã qua sử dụng, được đăng ký vào ngày 17 tháng 11 năm 2010, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn H nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại tài sản cho ông H quản lý, sử dụng là phù hợp, được chấp nhận.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y 15S, màu xanh, số IMEI1: 867251052253706, số IMEI2: 867251052253714, bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vietnam Mobile có số thuê bao 0585.552.233 – Hội đồng xét xử nhận thấy đây là tài sản có được từ nguồn tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định.

[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11]. Về các vấn đề khác trong vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Văn D là người có hành vi mua lại chiếc xe mô tô do Vũ Bảo T trộm cắp của ông Nguyễn Văn H, tuy nhiên quá trình điều tra xác định thời điểm anh D mua chiếc xe máy trên thì D không biết tài sản này là do Vũ Bảo T trộm cắp mà có nên hành vi của D không cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Bảo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    2. Xử phạt: Bị cáo Vũ Bảo T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2024.

    3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
  3. Biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Bảo T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15S, màu xanh, số IMEI1: 867251052253706, số IMEI2: 867251052253714 bên trong có lắp 01 sim điện thoại Vietnam Mobile có số thuê bao 0585.552.233.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứn giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 25/11/2024)

  6. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ –UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  7. Bị cáo Vũ Bảo T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

  8. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - THADS TP. Phổ Yên;
  • - Bị cáo; bị hại; Đương sự trong vụ án;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 187/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Bảo T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger