Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2024/HS-PT

Ngày: 26 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và bà Trần Thị Thúy Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 305/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Quốc K, do có kháng cáo của bị cáo K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Quốc K, sinh ngày 18/01/2004 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Đinh Thị Ngọc P; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A. (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thị C -Văn phòng luật sư Lê Thị C thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. (có mặt)

Bị hại: Ông Phan Tuấn K1, sinh năm 1977; trú tại: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1973; trú tại: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị Kim K2, sinh năm 2004; trú tại: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 3/2022 đến tháng 02/2024, Bùi Quốc K làm thuê cho Phan Tuấn K1 tại cơ sở mua bán phụ tùng nhà máy X, lau bóng gạo “Lê Kiệt” thuộc ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang thì nghỉ. Trong quá trình làm việc K thường xuyên điều khiển xe ôtô tải biển số 67C-145.97 của K1 đi giao hàng, sau khi nghỉ việc K vẫn giữ chìa khóa xe. Do không có tiền trả nợ nên K nảy sinh ý định lấy trộm xe. Để thực hiện, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10 tháng 6 năm 2024, K đem theo chìa khóa xe đến cơ sở của K1 quan sát xung quanh không thấy người giữ xe, K lén lên xe ngồi khoảng 05 phút, rồi điều khiển xe đi tìm nơi để bán. K điều khiển xe đến gặp ông Nguyễn Văn N là chủ cửa hàng mua bán phế liệu tại khu vực ấp M, xã M, huyện C kêu bán xe, nhưng do không có giấy tờ nên ông N không mua. Sau đó, K tiếp tục điều khiển xe về thị trấn C thì bị kiểm tra, phát hiện.

Vật chứng thu giữ: 01 xe ôtô tải biển số 67C-145.97; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh; số tiền 27.000đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG.TTHS ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C xác định: 01 xe ôtô tải biển số 67C-145.97, nhãn hiệu FRONTIER K250, màu xanh, trị giá 250.000.000đồng.

Tại Cáo trạng số: 73/CT-VKSCM ngày 13 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố Bùi Quốc K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Quốc K 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo K bị tạm giam ngày 10/6/2024. Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo luật định pháp luật.

Ngày 02/10/2024, bị cáo Bùi Quốc K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Bùi Quốc K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, lý do mức hình phạt của bị cáo là quá nặng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết mới, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Quốc K về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Quốc K 07 (bảy) năm tù, về tội "Trộm cắp tài sản”; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ y án sơ thẩm.

Luật sư Lê Thị C bào chữa cho bị cáo K phát biểu ý kiến: Bị cáo K trong lúc túng quẫn nên phạm tội nhất thời, bị cáo có nhân thân tốt, lao động chính trong gia đình, chưa có tiền án tiền sự; thiệt hại của bị hại chưa xảy ra, bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo thêm tình tiết tại điểm b khoản 1 Điều 51 và vận dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù cũng đủ giáo dục bị cáo, sớm về gia đình làm lại cuộc đời.

Viện kiểm sát trong phần tranh luận cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố và xét xử ở điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 tù; cấp sơ thẩm xử 07 năm tù là có cân nhắc, tương xứng hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét; đối với tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là không có căn cứ nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị ban đầu.

Bị cáo Bùi Quốc K nói lời sau cùng, bị cáo là lao động chính, rất ăn năn hối hận, do thiếu suy nghĩ, túng quẫn mới phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị cáo Bùi Quốc K trong thời hạn luật định, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Bùi Quốc K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại cơ sở mua bán phụ tùng nhà máy X và lau bóng gạo “Lê Kiệt” thuộc ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, bị cáo Bùi Quốc K đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe ôtô tải biển số 67C-145.97 của Phan Tuấn K1, trị giá 250.000.000đồng.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; lẽ ra phải lao động chân chính, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động; bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác; cần có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

[5] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt có trị giá tuy lớn. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo 07 năm tù là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo đã gây ra.

[6] Luật sư nêu ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét; đối với tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà luật sư yêu cầu xem xét cho bị cáo là không phù hợp quy định pháp luật, nên luận cứ của luật sư không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết mới; Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét, đề nghị của Viện kiểm sát giữ y án sơ thẩm là đồng quan điểm với Hội đồng xét xử.

[7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Quốc K về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Quốc K 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 10/6/2024.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Quốc K phải chịu 200.000đ.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (2);
  • - Cục THADS tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - TAND huyện Chợ Mới (2);
  • - Công an huyện Chợ Mới (1);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Phòng KTNV và THA (1);
  • - PV 06 (1);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu Tòa, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 187/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Kh trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger