TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HNGĐ - ST Ngày 18 tháng 11 năm 2024 “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn; Ông Huỳnh Văn Nam
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 553/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo số: 668/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V sinh năm 1967. Có mặt
- Bị đơn: Bà Dương Thị H sinh năm 1974. Có mặt
Nơi cư trú: Số E, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
Nơi cư: Số E, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/9/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Nguyễn Văn V trình bày: Ông V và bà H quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 133 ngày 07/7/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, giữa hai bên có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Nay hai bên không còn tình cảm, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H. Về con chung: Ông V và bà H có 03 con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/02/2000, Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 03/5/2006 và Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 29/10/2009. Hiện cháu K, cháu Đ đã tuổi trưởng thành, có khả năng tự lập, riêng K1 chưa đủ 18 tuổi nên ông V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con cháu K1, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Dương Thị H trình bày: Thống nhất với ông V về thời gian tìm hiểu và tiến đến hôn nhân cũng như mâu thuẫn vợ chồng nhưng không đến mức trầm trọng. Nay, ông V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì bà H không đồng ý, vì bà H muốn con có đủ cha mẹ; Về con chung: Thống nhất có 03 con chung như ông V trình bày, hiện cháu K, cháu Đ đã trưởng thành, có khả năng tự lập, riêng cháu K1 chưa đủ 18 tuổi, trường hợp ông V vẫn yêu cầu ly hôn thì bà H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: bà H tự thỏa thuận với ông V, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án xem xét cho gia đình được đoàn tụ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ý kiến của các đương sự tại bản tự khai, Tòa án nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về nội dung tranh chấp
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 133, ngày 07/7/2004 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quá trình chung sống, nguyên đơn cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thiếu sự chia sẻ, cảm thông nhau trong cuộc sống vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý.
- Về con chung: Ông V và bà H có 03 con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/02/2000, Nguyễn Khánh Đ sinh ngày 03/5/2006 và Nguyễn Đăng K1 sinh ngày 29/10/2009. Hiện Em K, em Đ đã thành niên, riêng em K1 chưa đủ 18 tuổi nên các bên đều yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, em K1 đang sống cùng gia đình và có nguyện vọng được cha là ông V chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành cũng như xem xét điều kiện, hoàn cảnh, nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử chấp nhận giao quyền cho ông V được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng: Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con, do ông V không yêu cầu
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đăng ký thường trú tại thành phố L nên nguyên đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tin tưởng và chia sẻ nhau những khó khăn để vượt qua thử thách, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho gia đình hạnh phúc. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không xây dựng gia đình hạnh phúc, không tin tưởng nhau trong đời sống vợ chồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý, mục đích để lo cho các con nên Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian cho các bên tự hòa giải để hàn gắn hôn nhân nhưng không có kết quả, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, xét về tình nghĩa vợ chồng thì cả hai không còn nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Nguyên đơn cùng các thành viên gia đình không được cản trở bị đơn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn V được ly hôn với bà Dương Thị H. Quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Ông V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 29/10/2009. Đối với con tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/02/2000 và Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 03/5/2006, đã thành niên và có khả năng tự lập.
- Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét đến.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Văn V phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000747 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Nguyên đơn đã thực hiện xong.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn cùng các thành viên gia đình không được cản trở bị đơn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.
(Giải thích điều 26 Luật Thi hành án dân sự)
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam |
Bản án số 187/2024/HNGĐ - ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 187/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn và được nuôi con, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp.
