TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa
- Ông Nguyễn Bảo Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Cao Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 204/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T
- sinh ngày 24 tháng 9 năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 572/28/8 Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 5 Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hoàng D và bà Trần Thị T1; vợ, con: Không có
Tiền án: không; tiền sự: Không.
Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Trần Thanh L, sinh năm 1995; địa chỉ: 5 Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1999; địa chỉ: 1 Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 ngày 07/5/2024, Đội Cảnh sát hình sự Công an quận T phối hợp Công an P, quận T kiểm tra nhà tại địa chỉ số E Â, Phường A, quận T phát hiện Nguyễn Hoàng T có hành vi cho vay lãi nặng.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Hoàng T thực hiện hành vi cho vay tiền với lãi suất như sau: Từ năm 2022, có một số người quen và bạn bè hỏi vay tiền của T để làm ăn, T đồng ý cho vay tiền theo hình thức “lãi đứng”, theo đó hàng tháng, người vay chỉ phải trả tiền lãi cho T, còn dư nợ gốc khi nào có sẽ trả sau và kết thúc việc vay nợ. Lãi suất vay mỗi tháng do T đưa ra từ 10-20%/01 tháng số tiền vay. Những người vay tiền của T gồm: Lê Trần Thanh L vay số tiền 100.000.000 đồng, Nguyễn Thanh T2 vay 30.000.000 đồng, N (chưa rõ lai lịch) vay 7.000.000 đồng, Quỳnh A (chưa rõ lai lịch) vay 12.000.000 đồng, L1 (chưa rõ lai lịch) vay 5.000.000 đồng, Trà M (chưa rõ lai lịch) vay 50.000.000 đồng, C (chưa rõ lai lịch) vay 5.000.000 đồng. Quá trình cho vay, nếu người vay không trả lãi đúng hẹn thì T cho nợ lại tháng sau trả. Kết quả điều tra đã xác định được hành vi cho vay lãi nặng của T, cụ thể như sau:
- Khoảng tháng 3/2023, T cho Lê Trần Thanh L vay 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/01 tháng. T đưa cho L 50.000.000 đồng tiền mặt. Hàng tháng, L đóng cho T tiền lãi bằng 10% số tiền vay, tương đương 5.000.000 đồng/ 01 tháng. Khi nào có tiền trả số nợ gốc là 50.000.000 đồng thì sẽ ngưng đóng lãi, kết thúc việc vay tiền. Liêm đóng lãi được 03 tháng (tháng 4, 5 và 6) tương đương 15.000.000 đồng, đến tháng 06/2023, L tiếp tục vay thêm của T 50.000.000 đồng nữa. Tổng số tiền mà L vay của T là 100.000.000 đồng. Mỗi tháng, L trả cho T tiền lãi bằng 10% số tiền vay là 10.000.000 đồng. L tiếp tục đóng lãi được 05 tháng (tháng 7, 8, 9, 10 và 11) tương đương 50.000.000 đồng, đến tháng 11/2023, L trả cho T 10.000.000 đồng tiền nợ gốc. Tổng số nợ của L còn 90.000.000 đồng. Vì vậy những tháng sau đó, mỗi tháng Liêm đóng tiền lãi là 9.000.000 đồng cho T (bằng 10% số nợ gốc). Liêm trả lãi thêm 02 tháng (tháng 12/2023 và tháng 01/2024). Đến tháng 01/2024, L tiếp tục trả cho T 10.000.000 đồng tiền nợ gốc. Tổng số nợ của L còn 80.000.000 đồng. Vì vậy, tháng 2, 3 và 4/2024, L trả cho T tiền lãi là 8.000.000 đồng/tháng (bằng 10% số nợ gốc). Tổng số tiền lãi mà L đã trả cho T trong suốt quá trình vay từ tháng 3/2023 đến tháng 4/2024 là 107.000.000 đồng. Trong đó, lãi suất cho phép là 17.833.333 đồng, thu lợi bất chính là 89.166.667 đồng
- Khoảng tháng 8/2022, T cho Nguyễn Thanh T2 vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 20%/01 tháng. T dùng tài khoản ngân hàng A1 số [...] tên Nguyễn Hoàng T chuyển 30.000.000 đồng tiền vay cho T2 đến tài khoản ngân hàng S số [...] tên Nguyễn Thanh T2. Theo thỏa thuận, hàng tháng, T2 đóng cho T tiền lãi bằng 20%/01 tháng số tiền vay, tương đương 6.000.000 đồng. Khi nào có tiền để trả số nợ gốc là 30.000.000 đồng thì sẽ ngưng đóng lãi, kết thúc việc vay tiền. Tổng số tiền T2 đóng lãi cho T được 16 tháng (từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2023) tương đương 96.000.000 đồng. Đến tháng 01/2024, do không còn khả năng đóng lãi nên T2 xin Thái cho ngưng trả lãi, chỉ trả dần số nợ gốc. T đồng ý. Sau đó, T2 đã trả được cho T 14.000.000 đồng trong số 30.000.000 đồng nợ gốc vay của T. Hiện Trường còn nợ T 16.000.000 đồng. Trong đó, lãi suất cho phép là 8.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 88.000.000 đồng.
- Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Hoàng T.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám, đã qua sử dụng, đã trả lại cho Nguyễn Hoàng T.
Tại bản cáo trạng số 200/CT-VKS.TB ngày 30 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng đề nghị cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo, do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi cho Nguyễn Thanh T2 vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 20%/tháng (bằng 240%/năm), T2 đã trả tiền lãi cho T tổng cộng là 96.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất không vượt quá 20%/01 năm trên khoản tiền vay”, như vậy số tiền lãi tối đa mà T2 phải trả cho T theo quy định là 8.000.000 đồng, lãi ngoài quy định là 88.000.000 đồng; T cho Lê Trần Thanh L vay 100.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng (bằng 120%/năm) và L đã trả tiền lãi cho T tổng cộng là 107.000.000 đồng, số tiền lãi tối đa mà L phải trả cho T theo quy định là 17.833.333 đồng, lãi ngoài quy định là 89.166.667 đồng. Tổng cộng, tiền thu lợi bất chính ngoài quy định từ việc T cho ông T2 và ông L vay là 177.166.667 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thuộc trường hợp “Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, không những gây mất trật tự an toàn xã hội mà còn gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội nơi công cộng. Bị cáo là người có năng lực hành vi, nhận thức được việc cho vay lãi suất cao bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa cho toàn xã hội.
- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo tự nguyện nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại để điều tra, bị cáo chấp hành pháp luật tốt, không có vi phạm gì tại địa phương. Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh cũng như chính sách khoan hồng của pháp luật nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng án treo có thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, để bị cáo tự cải tạo cũng như tính răn đe, phòng ngừa chung. Việc bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về trách nhiệm dân sự:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Trần Thanh L có đơn trình bày: Bị cáo T có cho ông L vay số tiền 100.000.000 đồng, trong thời gian chuẩn bị xét xử ông L đã thanh toán đủ cho bị cáo 100.000.000 đồng tiền nợ gốc, ông L cũng nhận lại từ bị cáo số tiền lãi vượt quá qui định pháp luật là 89.166.667 đồng nên ông không có yêu cầu gì khác trong vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận sự việc này. Căn cứ vào khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo cho ông L vay là 100.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của ông L là 17.833.333 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T2 có đơn trình bày: Bị cáo T có cho ông Trương V số tiền 30.000.000 đồng, trong thời gian chuẩn bị xét xử ông T2 đã thanh toán đủ cho bị cáo 30.000.000 đồng tiền nợ gốc, ông T2 cũng nhận lại từ bị cáo số tiền lãi vượt quá qui định pháp luật là 88.000.000 đồng nên ông T2 không có yêu cầu gì khác trong vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận sự việc này. Căn cứ vào khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo cho ông T2 vay là 30.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của ông T2 là 8.000.000 đồng.
Tổng cộng, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 155.833.333 đồng. Bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002629 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Do đó, bị cáo phải nộp lại số tiền 145.833.333 đồng.
Đối với số tiền 177.166.667 đồng bị cáo thu vượt trên mức lãi suất 20%/năm từ ông Lê Trần Thanh L và ông Nguyễn Thanh T2. Xét thấy đây là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính của người vay, bị cáo đã trả đủ cho người vay là phù hợp với qui định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng: Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội (nhắn tin, trao đổi, ghi chú liên quan đến việc cho vay lãi nặng; chuyển khoản tiền cho vay) nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 201; Điều 38; Điều 47; Điều 65 và điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T cho Ủy ban nhân dân phường A2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T nộp lại số tiền 145.833.333 (một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng (trong đó bao gồm: 130.000.000 đồng tiền bị cáo dùng để cho vay và 15.833.333 (mười lăm triệu tám trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự bị cáo đã thu của người vay) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 04/BB/2025 ngày 17/10/2024 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Út |
Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 187/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ 10 ngày 07/5/2024, Đội Cảnh sát hình sự Công an quận T phối hợp Công an P, quận T kiểm tra nhà tại địa chỉ số E Â, Phường A, quận T phát hiện Nguyễn Hoàng T có hành vi cho vay lãi nặng.
