Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 187/2024/HSST

Ngày: 14 và 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ.

Ông Nguyễn Văn Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 và 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 160/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Hương L - Sinh ngày 15/9/1990 tại Cần Thơ. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: LEE SOHYEONG. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam và Hàn Quốc. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Nguyễn Thành T, sinh năm 1970. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1972. Chồng: Kim Hang S, sinh năm 1970, Quốc tịch: Hàn Quốc, có 01 con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 22/3/2024 đến ngày 29/3/2024. Tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 236 ngày 29/3/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 20/03/2024, Công an huyện S phối hợp với Đội thủ tục hành lý nhập khẩu thuộc Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế N2 tiến hành kiểm tra đối Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1990, nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ, là hành khách trên chuyến bay số hiệu: VN417 của hãng hàng không V từ sân bay I (Hàn Quốc) đến sân bay N (Việt Nam) có dấu hiệu đem theo hàng hóa vượt quy định nhưng không khai báo cơ quan Hải quan. Trước khi kiểm tra, Nguyễn Thị Hương L kê khai số hàng hóa gồm: Hàng hóa mỹ phẩm có trị giá 10.000.000 đồng; thuốc thực phẩm chức năng trị giá 5.000.000 đồng; sữa trị giá 5.000.000 đồng (có xuất xứ Hàn Quốc) và quần áo cá nhân của Nguyễn Thị Hương L. Quá trình kiểm tra hàng hóa và hành lý của Nguyễn Thị Hương L đã phát hiện: Nguyễn Thị Hương L vận chuyển 10.000 đô la Mỹ (100 tờ mệnh giá 100 USD); 04 kiện hành lý có mã VN882276P; VN882275P; VN882274P; VN882273P; 01 vali màu xanh là hành lý xách tay bên trong có chứa hàng hóa là mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, kẹo, sâm... Nguyễn Thị Hương L không thực hiện khai báo Hải quan khi vận chuyển tiền tệ, hàng hóa vào Việt Nam.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thị Hương L có 02 Quốc tịch (Việt Nam và Hàn Quốc) thường xuyên di chuyển bay từ Việt Nam sang Hàn Quốc và chiều ngược lại. Quá trình di chuyển, từ đầu năm 2024, Nguyễn Thị Hương L nhận vận chuyển hàng hóa (xách hàng thuê) mục đích để được hưởng tiền công. Do chưa quen biết nhiều người có nhu cầu gửi hàng nên Nguyễn Thị Hương L đã nhờ Vương Hồng H, sinh năm 1983, trú tại: 2 đường P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh giao dịch giúp. L liên lạc với Vương Hồng H qua tài khoản Zalo tên “Bảo Khánh”, nhờ Vương Hồng H nhận hàng hóa để Nguyễn Thị Hương L vận chuyển về Việt Nam. L và Vương Hồng H thỏa thuận giá vận chuyển hàng hóa là 120.000 đồng/01kg hàng hóa. Vương Hồng H chỉ giao hàng cho L, còn việc vận chuyển hàng, đi lại, khai báo, thông quan hàng hóa khi về Việt Nam là do Nguyễn Thị Hương L tự thực hiện, Vương Hồng H không có trách nhiệm. Sau đó, Vương Hồng H đã gom hàng cho L vận chuyển được nhiều chuyến về Việt Nam. Vương Hồng H không tham gia và không được hưởng lợi gì từ việc L vận chuyển hàng hóa qua biên giới.

Ngày 20/3/2024, tại sân bay I Hàn Quốc, Nguyễn Thị Hương L nhận từ Vương Hồng H 04 kiện hàng hóa đã được đóng kín và một số hàng hóa nhỏ lẻ của những người Việt Nam sinh sống tại Hàn Quốc để mang về Việt Nam. Vương Hồng H cũng đi cùng chuyến bay này với L từ sân bay I, Hàn Quốc về sân bay N, Việt Nam.

Trong các lần vận chuyển hàng hóa về Việt Nam trước đó mà L đã thực hiện, L liên hệ, nhờ Phạm Đức H1, sinh năm 1978, trú tại: 5 đường số A, phường H, quận G, thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn và nhờ người hỗ trợ thông quan hàng hóa khi về Việt Nam. Sau đó, Phạm Đức H1 có giới thiệu cho L người có tên là “Núi” và người có tên là “Đỏ” (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) để làm dịch vụ thông quan tại sân bay N. L được người tên “Đỏ” hướng dẫn việc vận chuyển hàng hóa qua biên giới (khi đến cửa kiểm soát soi chiếu, L cứ đẩy hàng hóa vào soi chiếu và cho ra ngoài mà không cần khai báo), nếu hàng vượt quá định mức cho phép thì liên lạc với người tên “Núi” để làm thủ tục. Do không liên lạc trực tiếp được với người tên “Núi” (vì N không đồng ý kết bạn) nên L đã liên lạc với Phạm Đức H1 để nhờ Phạm Đức H1 làm thủ tục thông quan, nộp tiền cho người tên “Núi” khi có hàng hóa vượt quá định mức được miễn thuế khi nhập cảnh vào Việt Nam. Nguyễn Thị Hương L thỏa thuận với Phạm Đức H1 sẽ nộp từ 1.000.000 đồng đến 1.400.000 đồng đối với 01 kiện hàng hoá, tùy giá trị loại hàng hóa. Sau khi chuyển hàng qua máy soi chiếu ở sân bay N, L sẽ giao lại hàng hóa cho Vương Hồng H để vận chuyển cho khách hoặc L sẽ thuê dịch vụ giao hàng để gửi đến cho khách.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ điện thoại và tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị Hương L, phát hiện tin nhắn qua phần mềm Telegram có liên quan đến vụ việc: Tin nhắn giữa L và người tên “Đỏ” về việc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, có nội dung đề cập đến Công ty A. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã điều tra, xác minh đối với Công ty TNHH A có địa chỉ tại tổ D, đường B, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội xác định: Công ty TNHH A không có giao dịch gì với Nguyễn Thị Hương L.

Vật chứng vụ án tạm giữ của Nguyễn Thị Hương L gồm: 04 túi Nguyễn Thị Hương L sử dụng để đựng 10.000 USD (100 tờ mệnh giá 100 USD); 04 kiện hành lý có mã VN882276P; VN882275P; VN882274P; VN882273P; 01 vali màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím, lắp sim số 0989.504.966; 02 hộ chiếu; 01 vé máy bay và 04 thẻ hành lý.

Tại bản Kết luận giám định số 2112/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của V1 - Bộ C kết luận: 100 tờ tiền mệnh giá 100 USD là các tờ tiền Đô la Mỹ thật.

Căn cứ bảng thông báo tỷ giá ngoại tệ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 ngày 20/3/2024: Tỷ giá quy đổi từ Đô la Mỹ sang Việt Nam đồng ngày 20/3/2024 là 01 USD = 23.999 VNĐ.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐ ngày 18/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: Mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, sữa, hàng tiêu dùng... thu giữ của Nguyễn Thị Hương L có tổng giá trị là 237.894.000 đồng.

Đối với đối tượng có tên là “Núi” và đối tượng có tên là “Đỏ”: Quá trình điều tra, Công an huyện S đã nhận được đơn tố giác của chị Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1987, trú tại: Tổ A, phường P, thành phố T về việc tố giác ông Vũ D1, cán bộ đội trinh sát, Công an cửa khẩu N3, Cục Q, Bộ C (biệt danh là Đ) đã có hành vi cấu kết, bao che cho các con buôn vận chuyển hàng hoá từ nước ngoài về Việt Nam, trong đó có Nguyễn Thị Hương L. Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ, chị Nguyễn Thị Thanh N1 không phải là người gửi đơn, không biết thông tin gì về nội dung tố giác trong đơn, không có căn cứ xác định ông Vũ D1 liên quan đến việc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới nêu trên. Nguyễn Thị Hương L xác nhận không quen biết và liên lạc hay trao đổi gì với ông Vũ D1.

Đối với Vương Hồng H là người nhận hàng hoá của những người ở Hàn Quốc chuyển cho Nguyễn Thị Hương L vận chuyển về Việt Nam: Vương Hồng H không tham gia và không hưởng lợi gì từ việc L vận chuyển hàng hóa qua biên giới nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S không có căn xử lý.

Đối với Phạm Đức H1 là đối tượng được Nguyễn Thị Hương L nhờ tìm người hỗ trợ việc thông quan hàng hóa khi về Việt Nam: Phạm Đức H1 chỉ giới thiệu để L kết nối với người có tên là “Núi” và người có tên là “Đỏ” để làm dịch vụ thông quan tại sân bay N. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân của đối tượng “Núi” và “Đỏ” nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với các lần vận chuyển hàng háo trước đó do không xác định được trị giá hàng hóa Nguyễn Thị Hương L đã vận chuyển nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với Nguyễn Thị Hương L và các đối tượng liên quan.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị Hương L về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 35; 47; 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt Nguyễn Thị Hương L từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng.

Về vật chứng:

  • + Trả lại Nguyễn Thị Hương L 02 hộ chiếu.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 04 túi Nguyễn Thị Hương L sử dụng để đựng tiền ngoại tệ; 01 vé máy bay và 04 thẻ hành lý của Nguyễn Thị Hương L.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 5.000 USD thu của Nguyễn Thị Hương L.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 04 kiện và 01 vali chứa hàng hoá Nguyễn Thị Hương L vận chuyển qua biên giới ngày 20/3/2024, tình trạng nguyên niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI 355597827056744 của Nguyễn Thị Hương L.
  • + Tiếp tục tạm giữ 5.000 USD thu của Nguyễn Thị Hương L để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2} Về nội dung vụ án : Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Khoảng 13 giờ ngày 20/3/2024, tại khu vực cửa khẩu sân bay Quốc tế N2 thuộc địa bàn huyện S, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Hương L khi làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam trên chuyến bay mang số hiệu VN417 của hãng hàng không V từ sân bay I (Hàn Quốc) đến sân bay N (Việt Nam) đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới gồm: 10.000 USD và nhiều hàng hóa là mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, sữa, kẹo, sâm ... có trị giá 227.894.000 đồng từ Hàn Quốc về Việt Nam, nhưng không khai báo hải quan theo quy định.

Theo Điều 2 Thông tư số 15/2011/TT-NHNN ngày 12/8/2011 của Ngân hàng N4 quy định về mức ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt phải khai báo hải quan cửa khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh như sau: “1. Cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định dưới đây phải khai báo Hải quan cửa khẩu:

a) 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) hoặc các ngoại tệ khác có giá trị tương đương”.

Theo Điều 6 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Quy định miễn thuế đối với hành lý của người nhập cảnh các vật phẩm (không nằm trong Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện) có tổng trị giá Hải quan không quá 10.000.000 đồng Việt Nam.

Theo Điều 58, Điều 59 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính Phủ: Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát, kiểm soát hải quan: Quy định thủ tục kiểm soát Hải quan đối với hành lý của người nhập cảnh: Hành lý của người nhập cảnh vượt quá định mức được miễn thuế thì phần vượt này được coi là hàng hóa nhập khẩu, phải thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng hóa nhập khẩu, pháp luật về thuế. Người nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức qua khu vực kiểm tra Hải quan mà không khai Hải quan đều coi là hàng hóa nhập khẩu bất hợp pháp.

Như vậy, Nguyễn Thị Hương L đã mang theo 10.000 USD không khai báo Hải quan cửa khẩu, vượt định mức quy định là 5.000 USD, theo tỷ giá ngoại tệ ngày 20/3/2024 thì 01 USD = 23.999 VNĐ, quy đổi tương đương số tiền vượt định mức là 119.995.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Thị Hương L còn có hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới gồm: Mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, sữa, hàng tiêu dùng... trị giá 237.894.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản hàng hóa, tiền tệ bị cáo Nguyễn Thị Hương L vận chuyển trái phép qua biên giới được xác định là 347.889.000 đồng (Ba trăm bốn mươi bẩy triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn đồng).

Vì vậy, đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”, tội và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định:

“1. Người nào vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

...;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

...;

b) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”

...;

Bản cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Hương L về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, quản lý tiền tệ. Khi làm thủ tục xuất, nhập cảnh, tại các hộp đèn, bảng thông báo bằng tiếng Việt, tiếng Anh ở khu vực làm thủ tục hàng không và trước khu vực xuất, nhập cảnh đều có bảng hiệu niêm yết ghi thông tin, thông báo quy định giới hạn tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí, đá quý đối với hành khách khi xuất, nhập cảnh. Tờ khai hải quan dùng cho người xuất, nhập cảnh do cơ quan hải quan cung cấp miễn phí, được đặt trong hộp tờ khai hải quan tại các bàn hướng dẫn, dễ nhận biết để người xuất, nhập cảnh khai báo khi có nhu cầu. Bị cáo biết rõ các quy định liên quan đến việc mang ngoại tệ, hàng hoá vượt quá quy định khi nhập cảnh về Việt Nam phải khai báo cửa khẩu nhưng đã không khai báo là lỗi cố ý. Vì vậy, cần áp dụng tội danh và hình phạt quy định tại Điều 189 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo.

{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.

{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, toàn bộ tài sản đã bị thu giữ; bị cáo có 02 Quốc tịch, không thường xuyên cư trú tại Việt Nam mà cư trú cả ở Hàn Quốc. Do đó, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự; tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; nhân thân của bị cáo cùng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, xét không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

{3} Về vật chứng:

  • + Trả lại Nguyễn Thị Hương L 02 hộ chiếu.
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 04 túi Nguyễn Thị Hương L sử dụng để đựng tiền ngoại tệ; 01 vé máy bay và 04 thẻ hành lý của Nguyễn Thị Hương L.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 5.000 USD thu của Nguyễn Thị Hương L.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 04 kiện và 01 vali chứa hàng hoá Nguyễn Thị Hương L vận chuyển qua biên giới ngày 20/3/2024, tình trạng nguyên niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI 355597827056744 của Nguyễn Thị Hương L.
  • + Tiếp tục tạm giữ 5.000 USD thu của Nguyễn Thị Hương L để đảm bảo thi hành án.

{4} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.

{5} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị Hương L 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

- Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

+ Trả lại Nguyễn Thị Hương L 02 hộ chiếu (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

+ Tịch thu tiêu huỷ: 04 túi Nguyễn Thị Hương L sử dụng để đựng tiền ngoại tệ; 01 vé máy bay và 04 thẻ hành lý của Nguyễn Thị Hương L (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 16/9/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh sở giao dịch - Phòng G của Nguyễn Thị Hương L.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 04 kiện và 01 vali chứa hàng hoá Nguyễn Thị Hương L vận chuyển qua biên giới ngày 20/3/2024, tình trạng nguyên niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI 355597827056744 của Nguyễn Thị Hương L (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

+ Tiếp tục tạm giữ 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 16/9/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh sở giao dịch - Phòng giao dịch Khâm Thiên thu của Nguyễn Thị Hương L để đảm bảo thi hành án.

+ Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phạt, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phạt theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội.
  • - VKSNDTP Hà Nội.
  • - VKSND huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Chi cục THA huyện Sóc Sơn.
  • - Lưu hồ sơ.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HSST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

  • Số bản án: 187/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”. - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị Hương L 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). - Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. + Trả lại Nguyễn Thị Hương L 02 hộ chiếu (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn). + Tịch thu tiêu huỷ: 04 túi Nguyễn Thị Hương L sử dụng để đựng tiền ngoại tệ; 01 vé máy bay và 04 thẻ hành lý của Nguyễn Thị Hương L (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn). + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 16/9/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh sở giao dịch - Phòng G của Nguyễn Thị Hương L. + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 04 kiện và 01 vali chứa hàng hoá Nguyễn Thị Hương L vận chuyển qua biên giới ngày 20/3/2024, tình trạng nguyên niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI 355597827056744 của Nguyễn Thị Hương L (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn). + Tiếp tục tạm giữ 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 16/9/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh sở giao dịch - Phòng giao dịch Khâm Thiên thu của Nguyễn Thị Hương L để đảm bảo thi hành án. + Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger