TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 187/2024/HS-ST Ngày: 12/9/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thái (Giáo viên nghỉ hưu)
2. Ông Trần Văn Vinh
Thư ký phiên toà:
Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/HSST ngày 05/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/HSST-QĐ ngày 05/9/2024 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN QUỐC K, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/9/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 7 tháng 12 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn H; con bà Lê Thị M; Danh chỉ bản: 000000338 lập ngày 09/5/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 20 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị M (bố mẹ bị cáo)- Cùng ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Đỗ Thị T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
2. ĐẶNG HUY H1, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/10/2004; ĐKHK và ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 10/12; con ông Đặng Văn T1; con bà Tạ Thị Bích P; Danh chỉ bản: 000000336, lập ngày 09/5/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 đến ngày 23/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. PHẠM TIẾN DŨNG, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05/01/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 3 tháng 11 ngày); ĐKHK và ở tại: đội 2, thôn Đ, xã D, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Phạm Văn T2; con bà Nguyễn Thị K1; Danh chỉ bản: 000000281, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 31/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Phạm Văn T2 và bà Nguyễn Thị K1 (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: thôn Đ, xã D, huyện T, Hà Nội. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
4. NGUYỄN ANH T3, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/8/2004; ĐKHK và ở tại: thôn 2, xã V, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Tuấn A; con bà Nguyễn Thị T4; Danh chỉ bản: 000000278, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 31/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. PHẠM VĂN D1, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30/5/2006 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 10 tháng 17 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn 2, xã Đ, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 07/12; con ông Phạm Văn Q; con bà Nguyễn Thị H2; Danh chỉ bản: 000000282, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 31/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị H2 (bố mẹ bị cáo) -Cùng ở tại: thôn 2, xã Đ, huyện T, Hà Nội. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nghiêm Thị N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
6. NHÂN ĐỨC LONG, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/10/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 6 tháng 15 ngày); ĐKHK và ở tại: đội 9, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 09/12; con ông Nhân Văn N1; con bà Dương Thị T5; Danh chỉ bản: 000000277, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Nhân Văn N1 và bà Dương Thị T5 (bố mẹ bị cáo)- Cùng ở tại: đội 9, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nghiêm Thị N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
7. LÊ NGỌC B, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/01/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 02 tháng 23 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn 1, xã Đ, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 09/12; con ông Lê Ngọc L1 (đã chết); con bà Bùi Thị V; Danh chỉ bản: 000000275, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: bà Bùi Thị V (mẹ bị cáo) - ở tại: thôn 1, xã Đ, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nghiêm Thị N – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
8. PHẠM ĐỨC T6, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/9/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 6 tháng 20 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn Đ, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Phạm Quý H3; con bà Nguyễn Thùy D2; Danh chỉ bản: 000000285, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 10/6/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Phạm Quý H3 và bà Nguyễn Thùy D2 (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: thôn Đ, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Bích H4 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
9. PHẠM QUANG A1, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/11/2006 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 5 tháng 13 ngày); ĐKHK: thôn 3, xã Đ, huyện T, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Phạm Quang H5; con bà Hoàng Thị Kim O; Danh chỉ bản: 000000284, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Phạm Quang H5 và bà Hoàng Thị Kim O (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: thôn Đ, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
10. NGUYỄN VŨ HOÀNG Đ, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/7/2005 tại Hà Nội; ĐKHK và ở tại: tập thể T, xã V, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Nguyễn Tiến D3; con bà Phạm Thị G; Danh chỉ bản: 000000327, lập ngày 07/5/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 đến ngày 10/6/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
11. CHỬ NGỌC TRÁNG, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/01/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 2 tháng 28 ngày) ; ĐKHK và ở tại: thôn 2, xã V, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 10/12; con ông Chử Phan G1; con bà Chử Thị T7; Danh chỉ bản: 000000274, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 23/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Chử Phan G1 và bà Chử Thị T7 (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: thôn 2, xã V, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
12. ĐOÀN TRUNG HIẾU, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/7/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 8 tháng 28 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 10/12; con ông Đoàn Thành C; con bà Nguyễn Thị N2; Danh chỉ bản: 000000318, lập ngày 06/5/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 20 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Vụ án này, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: bà Nguyễn Thị N2 (mẹ bị cáo) - ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Bích H4 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
13. ĐẶNG ANH TÚ, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/7/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 8 tháng 27 ngày); ĐKHK và ở tại: Đội 3, thôn Đ, xã D, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Đặng Hồng Q1; con bà Phạm Thị L2; Danh chỉ bản: 000000283, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 23/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Đặng Hồng Q1 và bà Nguyễn Thị N2 (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: Đội 3, thôn Đ, xã D, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Bích H4 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
14. NGUYỄN TUẤN V1, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/4/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 14 ngày); ĐKHK: xã C, huyện C, Quảng Trị; hiện ở tại: thôn Đ, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Nguyễn Văn M1; con bà Võ Thị P1; Danh chỉ bản: 000000279, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 23/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Nguyễn Văn M1 và bà Võ Thị P1 (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: thôn Đ, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Phan Thị Thu T8 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
15. TẠ TRUNG NGUYÊN, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/7/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 8 tháng 27 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 09/12; con ông Tạ Công V2; con bà Bùi Thị S ; Danh chỉ bản: 000000418, lập ngày 08/6/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Tạ Công V2 và bà Bùi Thị S (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
16. NGUYỄN QUANG T9, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/11/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 4 tháng 29 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn 5, xã Đ, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 11/12; con ông Nguyễn Quang D4 (đã chết); con bà Đặng Thúy H6; Danh chỉ bản: 000000276, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 31/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: bà Đặng Thúy H6 (mẹ bị cáo) - ở tại: thôn 5, xã Đ, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Bích H4 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
17. TRẦN ĐỨC K2, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14/02/2007 (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 02 tháng 02 ngày); ĐKHK và ở tại: thôn 1, xã V, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 10/12; con ông Trần Đức N3; con bà Phạm Thị Bích D5 ; Danh chỉ bản: 000000280, lập ngày 25/4/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: Không; Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024, đến ngày 23/5/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện, giám hộ cho bị cáo: ông Trần Đức N3 và bà Phạm Thị Bích D5 (bố mẹ bị cáo) - Cùng ở tại: xã V, huyện T, Hà Nội. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: bà Phan Thị Thu T8 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Hồng Q1, sinh năm 1982; Trú tại: thôn Đ, xã D, huyện T, Hà Nội. (có mặt)
- Bà Tạ Thị Bích P, sinh năm 1976; Trú tại: thôn S, xã N, huyện T, Hà Nội. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4 năm 2024, Đặng Huy H1 xảy ra mâu thuẫn với một nam thanh niên có tài khoản Facebook “Bảo Châu” ở T, Hà Nội; Nguyễn Quốc K biết sự việc và rủ rê một nhóm đối tượng quen biết trong hội nhóm Facebook “29M1” cùng một số đối tượng tụ tập, chuẩn bị hung khí để đánh nhau với nhóm thanh niên ở T nêu trên vào tối ngày 16/4/2024. Để chuẩn bị cho việc đánh nhau, khoảng chiều ngày 14/4/2024, Phạm Văn D1 mang theo máy hàn, máy cắt, 01 đầu dao nhọn, 01 đầu dao quắm, 01 thanh tuýp sắt dài rồi mang đến nhà Phạm Quang A1 ở xã N, huyện T, Hà Nội để tự chế các tuýp sắt gắn dao với mục đích sử dụng đi đánh nhau. Chiều ngày 15/4/2024, Nguyễn Quốc K tiếp tục mang tuýp sắt và đầu lưỡi dao, lưỡi kiếm cùng Phạm Văn D1, Lê Ngọc B và Nguyễn Anh T3 đến nhà Quang A1 để tiếp tục chế tạo hung khí và cất giấu tại đó.
Buổi tối ngày 16/4/2024, Nguyễn Quốc K nhắn tin trong hội nhóm và gọi điện rủ Đặng Huy H1, Tạ Trung N4, Nguyễn Anh T3, Phạm Văn D1, Phạm Quang A1, Phạm Tiến D6, Lê Ngọc B, Đặng Anh T10, Nhân Đức L3, Phạm Đức T6, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Nguyễn Tuấn V1, Đặng Tiến Đ1, Chử Nam D7, Chử H, Đoàn Trung H7, Tạ Tuấn H8, Bách L4, Hoàng Văn L5 cùng Khuất Thành N5 đi đánh nhau. Tất cả đồng ý. Sau đó, Phạm Văn D1 đến nhà của Nguyễn Quang T9 mượn và lấy 02 thanh tuýp sắt hàn dao rồi mang đi cất dấu chuẩn bị đánh nhau. D1 rủ T9 cùng đi đánh nhau nhưng T9 không đi.
Khi biết thông tin nhóm đối tượng Thường T11 đang ở khu vực đường G, quận H, Hà Nội, cả nhóm di chuyển về nhà Quang Al với mục đích lấy hung khí đã chuẩn bị từ trước đó mang đi đánh nhau. Quá trình di chuyển, Lê Ngọc B chở Phạm Đức T6 cùng Đặng Anh T10 tách ra đi ra đằng sau khu vực trường cấp 3 Đ, huyện T, Hà Nội lấy 01(một) tuýp sắt hàn dao nhọn và 01(một) tuýp sắt hàn dao quắm đã mượn trước đó của Nguyễn Quang T9 rồi cùng di chuyển lên khu vực đường G.
Cùng lúc này, Chử Ngọc T12 điều khiển xe mô tô chở Đoàn Trung H7, Quốc A2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chở Chử Hải N6 (Sinh năm: 2008; Nơi cư trú: xã V, huyện T, Hà Nội); Trần Đức K2 chở Chử Nam D7 (Sinh năm: 2008; Nơi cư trú: xã V, huyện T, Hà Nội) và Chử Ngọc T13 từ quán game tại Thôn 3, xã V, huyện T, Hà Nội hướng lên khu vực trường cấp 3 L, xã N, huyện T, Hà Nội. Tại đây, xe của Trần Đức K2 đỗ lại, còn xe của Chử Ngọc T12, Quốc A2 đi đổ xăng; trên đường đi thì bị 01(một) nhóm thanh niên khoảng hơn 10 xe máy di chuyển theo hướng từ T xuống đường mới Ngũ Hiệp hô hào, đuổi đánh nên xe của Chử Ngọc T12, Quốc A2 chạy về trường cấp 3 L, xã N, huyện T, Hà Nội. Lúc quay lại, Quốc A2 chở Chử Nam D7, Trần Đức K2 đi về quán game ban đầu. Lúc này, K2 không đi đánh nhau nữa, khi Chử Ngọc T13 mượn K2 chiếc xe mô tô để tiếp tục đi đánh nhau thì K2 đồng ý và cho T13 mượn xe chở Chử Hải N6; Chử Ngọc T12 chở H7 tiếp tục đi đánh nhau. Tại quán game, Chử Nam D7 rủ Lâm Ngọc Bảo N7 đi đánh nhau thì N7 đồng ý. Sau đó, trên đường cả nhóm di chuyển thì chập lại với nhau nhưng khi lên khu vực đường G không phát hiện thấy nhóm thanh niên Thường Tín thì cả nhóm lại quay về tụ tập ở khu vực trường cấp 3 L, xã N, huyện T, Hà Nội.
Tại khu vực trường cấp 3 L, xã N, huyện T, Hà Nội, Phạm Văn D1 điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng không biển kiểm soát chở Nhân Đức L3 cầm 01(một) thanh tuýp gắn đầu dao nhọn; Phạm Đức T6 điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng xám không biển kiểm soát chở Lê Ngọc B cầm 01 thanh tuýp gắn dao nhọn; Lâm Ngọc Bảo N7 điều khiển xe máy Honda Vision màu trắng biển kiểm soát: 29M1 – 526.78 chở Chử Nam Dương cầm 01 tuýp gắn xiên nhọn; Phạm Quang A1 điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng không biển kiểm soát chở Nguyễn Vũ Hoàng Đ cầm 01 thanh tuýp gắn xiên nhọn; Phạm Tiến D6 điều khiển xe máy Honda Wave màu đỏ không biển kiểm soát chở Nguyễn Anh T3 cầm 01 thanh kiếm; Chử Ngọc T12 điều khiển xe máy Honda Wave màu tím than biển kiểm soát: 970.47 chở H7 cầm 01 thanh tuýp gắn hàn đinh ba; Chử Ngọc T13 điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh tím than biển kiểm soát: 29M1 – 971.87 chở Chử Hải N6 cầm 01 thanh kiếm; Khuất Thành N5 điều khiển xe Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 29AC- 089.25 chở Đặng Anh T10 cầm tuýp gắn xiên nhọn; Đặng Huy H1 điều khiển xe máy Honda Ablade màu đỏ không biển kiểm soát chở Quốc K hai tay cầm tuýp sắt hàn dao quắm và tuýp sắt hàn kiếm; 01 nam thanh niên (chưa xác định nhân thân lai lịch) điều khiển xe máy Hondo Vision màu xám không biển kiểm soát chở Trung N4 cầm 01 thanh tuýp gắn kiếm; Đ1 (chưa xác định nhân thân lai lịch) điều khiển xe máy Honda Wave màu tím than không biển kiểm soát chở Nguyễn Tuấn V1 cầm 01 thanh tuýp hàn dao nhọn. Sau đó, tất cả di chuyển ra đường N đi xuống dưới khu vực T, Hà Nội, quá trình di chuyển các đối tượng điều khiển xe mô tô với tốc độ 70-80km/h, mang theo hung khí lạng lách, đánh võng, có một số đối tượng còn kéo rê hung khí xuống mặt đường tạo tia lửa. Khi đi đến đoạn cây xăng V3 thuộc xã V, huyện T, Hà Nội thì cả nhóm gặp Nguyễn Minh Hoàng Nhật Ạ (Sinh năm: 2008; Nơi cư trú: thôn 2, xã V, huyện T, Hà Nội) điều khiển xe mô tô chở Đặng Tiến Đ1 (SN; 2008; Nơi cư trú: xã N, huyện T, Hà Nội) đang đi làm về. Nhật A3 và Đ1 biết nhóm của Quốc K đang cầm hung khí chuẩn bị đi đánh nhau nên đã cùng tham gia. Khi đi đến khu vực cổng UBND Huyện T, cả nhóm phát hiện thấy 05 nam thanh niên điều khiển 03 chiếc xe máy không cầm theo hung khí đi theo hướng ngược lại. Thấy vậy nhóm của Quốc K quay xe truy đuổi với mục đích đánh các thanh niên này. Cả nhóm đuổi được khoảng gần 1km thì 02 xe gồm 04 nam thanh niên tẩu thoát được còn 01 xe còn lại do 01 nam thanh niên điều khiển dừng lại bên đường và nhảy xuống ruộng bỏ chạy nên cả nhóm không truy đuổi nữa mà đi về. Cả nhóm tập trung ở trường cấp 3 Đ, huyện T, Hà Nội mới gom lại các hung khí đưa cho Quang Al mang về nhà cất giấu rồi giải tán.
Sự việc xảy ra đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã N, huyện T, Hà Nội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Ngày 19/04/2024, UBND xã N, huyện T, Hà Nội đã có đơn đề nghị Cơ quan Công an điều tra xử lý các đối tượng gây rối trật tự công cộng theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành điều tra, triệu tập các đối tượng lên làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Quang A1, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Lê Ngọc B, Phạm Đức T6, Nguyễn Quang T9, Đặng Anh T10, Trần Đức K2, Nguyễn Tuấn V1, Nguyễn Quốc K, Đoàn Trung H7, Đặng Huy H1, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Tạ Trung N4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với Nguyễn Quang T9 không trực tiếp tham gia cùng các bị cáo khác trong việc gây rối trật tự công cộng, tuy nhiên, T9 biết rõ nhóm Phạm Văn D1 đi đánh nhau nhưng vẫn cho nhóm bị cáo mượn 02 thanh tuýp sắt hàn dao mang đi Gây rối trật tự công cộng trong vụ án này. Do đó, hành vi của T9 là đồng phạm giúp sức cho các bị cáo khác Gây rối trật tự công cộng.
Đối với các đối tượng Chử Ngọc T13, Chử H, Chử Nam D7, Lâm Ngọc Bảo N7, Khuất Thành N5, Nguyễn Minh Hoàng Nhật A3, Đặng Tiến Đ1: các đối tượng có hành vi Gây rối trật tự công cộng, tuy nhiên do các đối tượng chưa đủ tuổi chịu trach nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xử lý hình sự đối với các đối tượng trên. Đối với hành vi đã thực hiện, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T13, N5, D7, B, T, Nhật A3, Đ1 về hành vi vi phạm quy định về trật tự cộng cộng được quy định tại điều 7, nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Đối với hành vi tụ tập, chuẩn bị hung khí, đuổi đánh nhau xảy ra ngày 16/4/2024 tại địa bàn xã N, đoạn đường dọc Quốc lộ 1A cũ từ xã N huyện T đến huyện T của các đối tượng khác, do hết thời hạn điều tra chưa xác định được nhân thân, chưa đủ căn cứ để xử lý nên Cơ quan CSĐT - Công an Huyện T ra Quyết định tách rút tài liệu về nhân thân thân, lai lịch, hành vi của các đối tượng liên quan đến vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã thu giữ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát: 29M1 – 526.78; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29AC - 089.25; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh - bạc, biển kiểm soát: 29M1-971.87; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển kiểm soát: 29Y5- 804.94 (cả 04 chiếc xe máy trên tình trạng đều đã qua sử dụng); 02 chiếc tuýp sắt hàn mũi xiên nhọn có chiều dài 2,42 mét (đã hoen rỉ); 02 chiếc tuýp sắt hàn mũi kiếm có chiều dài 2,44 mét (đã hoen ri); 02 chiếc tuýp sắt hàn dao phóng lợn có chiều dài 2,40 mét (đã hoen rỉ); 01 chiếc tuýp sắt hàn mũi đinh ba có chiều dài 2,80 mét (đã hoen rỉ); 01 chiếc tuýp sắt hàn dao mèo có chiều dài 2,20 mét (đã hoen rỉ); 02 chiếc tuýp sắt hàn dao quắm có chiều dài 02 mét (đã hoen rỉ); 01 thanh kiếm có chiều dài 90 cm (đã hoen rỉ).
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát: 29M1 – 526.78: qua điều tra, xác minh là tài sản của chị Nguyễn Thị L6 là mẹ ruột của Lâm Ngọc Bảo N7. Ngày 16/4/2024, chị L6 không có nhà nên không biết việc N7 sử dụng chiếc xe trên thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T trả lại tài sản, chị L6 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh - bạc, biển kiểm soát: 29M1-971.87: qua điều tra, xác minh là tài sản của anh Trần Đức N3 là bố ruột của Trần Đức K2. Ngày 16/4/2024, anh N3 không biết việc K2 sử dụng chiếc xe trên thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T trả lại tài sản, anh N3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29AC - 089.25 do T10 điều khiển là xe của bố bị cáo là ông Đặng Hồng Q1. Ông Q1 không biết T10 sử dụng xe đi thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển kiểm soát: 29Y5- 804.94 do H1 điều khiển là xe của bà Tạ Thị Bích P là mẹ bị cáo. Bà P không biết H1 sử dụng xe đi thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với các xe mô tô khác mà các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng hiện cơ quan Công an chưa xác minh làm rõ được nên đã ra quyết định tách các tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKS-TT ngày 01/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phạm Quang A1, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Lê Ngọc B, Đoàn Trung H7, Phạm Đức T6, Nguyễn Tuấn V1, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Đặng Anh T10, Đặng Huy H1, Tạ Trung N4, Nguyễn Quang T9, Trần Đức K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phạm Quang A1, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Lê Ngọc B, Đoàn Trung H7, Phạm Đức T6, Nguyễn Tuấn V1, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Đặng Anh T10, Đặng Huy H1, Tạ Trung N4, Nguyễn Quang T9, Trần Đức K2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải và cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Bà Phan Thị Thu T8, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn V1 và Trần Đức K2 có ý kiến: Vai trò của các bị cáo thấp, ăn năn hối cải, các bị cáo được hưởng các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Bà Nguyễn Bích H4, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Phạm Đức T6, Đoàn Trung H7, Đặng Anh T10, Nguyễn Quang T9 có ý kiến: các bị cáo vai trò đồng phạm thấp, nhân thân tốt. Gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có công với đất nước nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Bà Nghiêm Thị N, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Lê Ngọc B có ý kiến: Do các bị cáo tuổi còn trẻ, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Bà Nguyễn Thị L, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Phạm Tiến D6, Phạm Quang A1, Chử Ngọc T12, Tạ Trung N4 có ý kiến:Các bị cáo có nhân thân tốt, ăn năn hối cải, tuổi vị thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Bà Đỗ Thị T, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc K có ý kiến: bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử đưa ra mức án khoan hồng cho bị cáo.
Đại diện giám hộ cho các bị cáo đều nhất trí với lời khai của các bị cáo và lời bào chữa cho các bị cáo. Đại diện giám hộ cho các bị cáo cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi liên quan, ông Đặng Hồng Q1 và bà Tạ Thị Bích P cùng xác nhận chiếc xe máy các bị cáo sử dụng là tài sản của ông Q1 và bà P, không phải tài sản riêng của các bị cáo. Ông Q1 và bà P không biết các bị cáo sử dụng xe máy đi gây rối trật tự như cáo trạng đã nêu. Ông Q1 và bà P cùng đề nghị Hội đồng xét xử cho xin lại những chiếc xe máy đã thu giữ của các bị cáo.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phạm Quang A1, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Lê Ngọc B, Đoàn Trung H7, Phạm Đức T6, Nguyễn Tuấn V1, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Đặng Anh T10, Đặng Huy H1, Tạ Trung N4, Nguyễn Quang T9, Trần Đức K2 theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 162/CT-VKS-TT ngày 01/8/2024 và đề nghị:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Quốc K mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 20 tháng tù tại bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đoàn Trung H7, Phạm Văn D1, Phạm Quang A1 mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự đối với Đoàn Trung H7 để tổng hợp hình phạt 20 tháng tù tại bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Vũ Hoàng Đ mức án từ 24 tháng đến 26 tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Tiến D6, Lê Ngọc B, Chử Ngọc T12, Đặng Anh T10, Nguyễn Tuấn V1, Tạ Trung N4, Nhân Đức L3, Phạm Đức T6 từ 20 tháng đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 40 tháng đến 44 tháng.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Quang T9, Trần Đức K2 mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Huy H1, Nguyễn Anh T3 mức án từ 24 tháng đến 26 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 48 tháng đến 52 tháng.
Vật chứng:
- Trả lại cho ông Phạn Văn T15 và bà Tạ Thị Bích P xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển kiểm soát: 29Y5- 804.94.
- Trả lại cho ông Đặg Hồng Q2 và bà Phạm Thị Lê C1 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29AC - 089.25.
- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc tuýp sắt hàn mũi xiên; 02 chiếc tuýp sắt hàn mũi kiếm; 02 chiếc tuýp sắt hàn dao phóng lợn; 01 chiếc tuýp sắt hàn mũi đinh ba; 01 chiếc tuýp sắt hàn dao; 02 chiếc tuýp sắt hàn dao quắm; 01 thanh kiếm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 đến hơn 22 giờ ngày 16 tháng 4 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Quốc K, Đặng Huy H1, Phạm Quang A1, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Lê Ngọc B, Phạm Đức T6, Đặng Anh T10, Trần Đức K2, Nguyễn Tuấn V1, Đoàn Trung H7, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Tạ Trung N4 và một số đối tượng khác với sự hỗ trợ hung khí của Nguyễn Quang T9 đã tụ tập đông người, mang theo tuýp sắt hàn dao, kiếm, điều khiển xe mô tô lạng lách trên đường, hò hét, sử dụng hung khí quẹt xuống đường tạo tia lửa, đuổi nhau từ dọc đường trên đường Quốc lộ 1A cũ đoạn từ đường N thuộc khu vực xã N, huyện T, Hà Nội đến thị trấn T, huyện T, Hà Nội đã gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn huyện T và huyện T, thành phố Hà Nội.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” tội danh và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải, do vậy cả 17 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Các bị cáo đều có đủ năng lực, nhận thức để biết việc tụ tập đông người, sử dụng hung khí là dao, kiếm, tuýp nước hàn dao nhọn, điều khiển xe máy lạng lách, hò hét, khua hung khí xuống mặt đường tạo ra tia lửa là hành vi hết sức nguy hiểm, gây sự náo loạn nơi công cộng và đe dọa tinh thần của người dân. Nhưng xuất phát từ sự thiếu tu dưỡng rèn luyện, coi thường an ninh trật tự, tính mạng, sức khỏe của người khác và ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng với sự tham gia rất đông các bị cáo và các đối tượng khác.
Bị cáo T9 tuy không trực tiếp tham gia, nhưng đồng phạm với vai trò giúp sức. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý.
Do vậy, căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân các bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án tù, phù hợp với từng vị trí vai trò của từng bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét khi thực hiện hành vi phạm tội, 14 bị cáo ở độ tuổi vị thành niên và có 03 bị cáo chưa đến 20 tuổi nên nhận thức của các bị cáo còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật. Sự buông lỏng quản lý, giáo dục của gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương. Các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Đối với bị cáo K là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nên mức hình phạt của K phải cao nhất và phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian. K đã bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 20 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng nên buộc K phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án.
Đối với Phạm Văn D1 là người tích cực chuẩn bị dao, kiếm, tuýp nước hàn dao và rủ rê các bị cáo khác tham gia nên vai trò của Văn D1 thấp hơn K và cao hơn các bị cáo còn lại, do vậy cũng cần cách ly Văn Dũng ra khỏi xã hội một thời gian và chịu mức hình phạt thấp hơn K.
Đối với Quang A1 là người cho các bị cáo đến nhà để chế tạo hung khí, là nơi cất giữ hung khí của cả nhóm và cung cấp hung khi, do vậy vai trò của Quang A1 thấp hơn K và tương đương với Văn D1. Do vậy, Quang Al cũng phải chịu mức hình phạt tù giam có thời hạn và tương đương D1.
Đối với H7 vai trò tham gia như các bị cáo còn lại, thấp hơn K, Văn D1 và Quang A1 nhưng H7 đã bị Tòa án Thường Tín xử phạt 20 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng nên cần phải xử phạt H7 mức án tù giam có thời hạn và buộc H7 phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án.
Đối với các bị cáo H1, Phạm Tiến D6, T3, L3, B, T6, Đ, T12, T10, V1, N4 có vai trò tham gia tương đương nhau và cùng thấp hơn K, Phạm Văn D1, Quang A1, tương đương H7 nên các bị cáo này cùng phải chịu mức hình phạt tương đương nhau.
Đối với bị cáo T9 không trực tiếp tham gia gây rối, chỉ cho mượn hung khí. Bị cáo K2 tham gia có mức độ nên vai trò và mức hình phạt của 02 bị cáo này thấp nhất.
Xét các bị cáo H1, Phạm Tiến D6, T3, L3, B, T6, Đ, T12, T10, V1, N4, T9, K2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và đang đi học, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, các bị cáo là lao động chính nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội, cho các bị cáo này được hưởng án treo, tạo điều kiện cho các bị cáo được học tập, lao động thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Ngoài ra, theo chính sách pháp luật đối với người vị thành niên phạm tội thì ngoài bị cáo K với vai trò khởi xướng, chủ mưu, đầu vụ thì các bị cáo vị thành niên khác còn được hưởng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự.
[5] Tang vật vụ án và án phí:
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29AC - 089.25 và xe mô tô Honda Airblade, màu đen, biển kiểm soát: 29Y5- 804.94 tuy đăng ký xe mang tên bị cáo H1 và bị cáo T10, nhưng xét độ tuổi các bị cáo và lời khai của ông Đặng Hồng Q1 và bà Tạ Thị Bích P thể hiện chiếc xe Honda Wave và chiếc xe Honda Airblade là tài sản của gia đình các bị cáo, không phải tài sản của cá nhân các bị cáo. Khi các bị cáo sử dụng xe máy tham gia gây rối trật tự, gia đình đều không biết nên xét thấy cần trả lại cho ông Q1 và bà P 02 chiếc xe máy trên.
- Đối với số hung khí gồm 02 chiếc tuýp sắt hàn mũi xiên nhọn; 02 chiếc tuýp sắt hàn mũi kiếm; 02 chiếc tuýp sắt hàn dao phóng lợn; 01 chiếc tuýp sắt hàn mũi đinh ba; 01 chiếc tuýp sắt hàn dao; 02 chiếc tuýp sắt hàn dao quắm; 01 thanh kiếm cần thiết phải tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện giám hộ, người bào chữa, người liên quan được quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phạm Quang A1, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Lê Ngọc B, Đoàn Trung H7, Phạm Đức T6, Nguyễn Tuấn V1, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Đặng Anh T10, Đặng Huy H1, Tạ Trung N4, Nguyễn Quang T9, Trần Đức K2 - Phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101, Điều 104; Điều 38 Bộ luật hình sự; (áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự đối với H7)
Xử phạt:
1. Nguyễn Quốc K 30 (Ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù tại bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 50 (Năm mươi) tháng tù, hạn tù kể từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam 08/5/2024, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 29/01/2024 tại bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội.
2. Đoàn Trung H7 20 (Hai mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù tại bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 40 (Bốn mươi) tháng tù, hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam 03/5/2024, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 29/01/2024 tại bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội.
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt:
1. Phạm Văn D1 22 (Hai mươi hai) tháng tù, hạn tù kể từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến ngày 31/5/2024.
2. Phạm Quang A1 22 (Hai mươi hai) tháng tù, hạn tù kể từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam 19/4/2024.
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt:
1. Đặng Huy H1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H1 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
2. Nguyễn Anh T3 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T3 về Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
3. Nguyễn Vũ Hoàng Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ về Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt:
1. Phạm Tiến D6 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo D6 về Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
2. Nhân Đức L3 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo L3 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Nhân Đức L3 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam, giữ về một tội khác.
3. Lê Ngọc B 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo B về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Lê Ngọc B ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam, giữ về một tội khác.
4. Phạm Đức T6 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T6 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
5. Chử Ngọc T12 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T12 về Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
6. Đặng Anh T10 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T10 về Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
7. Nguyễn Tuấn V1 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo V1 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
8. Tạ Trung N4 20 (Hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N4 về Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Tạ Trung N4 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam, giữ về một tội khác.
9. Nguyễn Quang T9 16 (Mười sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T9 về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
10. Trần Đức K2 16 (Mười sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo K2 về Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
*/Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo đã được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.
Xử lý vật chứng: Đối với số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024 được xử lý như sau:
- Trả lại cho ông Đặng Hồng Q1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29AC - 089.25.
- Trả lại cho bà Tạ Thị Bích P chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển kiểm soát: 29Y5- 804.94.
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chiếc tuýp sắt hàn mũi xiên nhọn; 02 (hai) chiếc tuýp sắt hàn mũi kiếm; 02 (hai) chiếc tuýp sắt hàn dao phóng lợn; 01 (một) chiếc tuýp sắt hàn mũi đinh ba; 01 (một) chiếc tuýp sắt hàn dao; 02 (hai) chiếc tuýp sắt hàn dao quắm; 01 (một) thanh kiếm.
Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phạm Quang A1, Phạm Văn D1, Nhân Đức L3, Chử Ngọc T12, Phạm Tiến D6, Nguyễn Anh T3, Lê Ngọc B, Đoàn Trung H7, Phạm Đức T6, Nguyễn Tuấn V1, Nguyễn Vũ Hoàng Đ, Đặng Anh T10, Đặng Huy H1, Tạ Trung N4, Nguyễn Quang T9, Trần Đức K2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện giám hộ cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận bản án:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hải |
Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 187/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
