TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/DS-PT Ngày 24-4-2024 V/v tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tâm
Ông Nguyễn Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 162/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm 1959; có mặt;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1; sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phan Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Anh Phan Thành T1, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
Ông Phan Xô V, sinh năm 1970; có mặt;
Cùng địa chỉ: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của ông C, ông V là ông Phạm Hồng P, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Đinh Thái H –Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà H1, anh T, anh T1 là anh Phạm Quốc T2, sinh năm 1984; địa chỉ: C đường L tổ C, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; theo văn bản ủy quyền ngày 11,16 tháng 5 năm 2022; có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H1, anh T, anh T2 là ông Vương Sơn H2 – Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư T; ...... mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (tiếp theo):
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt;
- Bà Phạm Ngọc H3, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt;
- Người kháng cáo: nguyên đơn ông Phan Văn C, ông Phan Xô Viết .
- Viện kiểm sát kháng nghị: không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa nguyên đơn trình bày:
Cụ Phan Văn T3, chết năm 1981 và cụ Đinh Thị H4, chết năm 1977 (là cha, mẹ nguyên đơn) có 04 người con gồm: 1/ ông Phan Văn C, 2/ ông Phan Trọng N1 (đã chết lúc nhỏ, không có vợ con), 3/ ông Phan Đình A (đã chết) có vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và 02 người con là anh Phan Văn T và anh Phan Thành T1, 4/ ông Phan Xô Viết . Lúc còn sống cụ T3, cụ H4 tạo lập được tài sản là quyền sử dụng đất diện tích là 3.640m² (ngang 36,4m x dài 100m) tại thửa 168 và thửa 208 (đo đạc thực tế sau khi trừ đi diện tích đã bị thu hồi là 3.597,9m²) tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi cụ T3, cụ H4 chết thì các anh em tiếp tục ở, quản lý, gìn giữ và tôn tạo. Năm 1985, ông Phan Đình A có vợ; năm 1991 ông C lên xã S, huyện T sinh sống; năm 1995 ông V cũng lên xã S ở nhưng vẫn đi đi về về. Sau đó vợ chồng Phan Đình A tự ý đi kê khai đăng ký và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không thông báo với anh em trong gia đình.
Nay ông C, ông V khởi kiện yêu cầu bà H1, anh T1, anh T trả lại cho ông C, ông V mỗi người 1/3 là 1.199,3m² trong tổng diện tích đất 3.597,9m². Yêu cầu bà H1, anh T1, anh T trả lại cho ông C, ông V mỗi người 1/3 số tiền bồi thường quyền sử dụng đất của dự án đường liên tuyến kết nối vùng N8-787B-789 mỗi người là 55.310.400 (năm mươi lăm triệu ba trăm mười nghìn bốn trăm) đồng. Đối với số tiền bồi thường về nhà ở, công trình kiến trúc, cây trái, hỗ trợ tái định cư...ông C, ông V không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người đại diện bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T1 trình bày: Ông Phan Đình A (chết năm 2007) chung sống với bà Nguyễn Thị Ngọc H1 vào năm 1984, có đăng ký kết hôn. Bà H1 và ông A có 02 người con chung là anh T và anh T1. Ông A được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 18.855m² ngày 20/3/1993. Nguồn gốc đất trong đó 2.000m² đất do ông bà để lại; phần còn lại do ông A khai phá. Ông A đã sử dụng ổn định, lâu dài, không ai tranh chấp và đã kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Nhà nước. Nay bà H1, anh T và anh T1 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C và ông V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là vợ của ông Phan Văn C. Khi bà và ông C kết hôn thì vợ chồng bà có sinh sống một thời gian trên diện tích đất tranh chấp. Bà xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp là tài sản chung của ông C, ông A và ông V. Nay bà yêu cầu bà H1 và các con bà H1 trả lại cho vợ chồng bà 1 diện tích đất và 1/3 số tiền bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Ngọc H3 trình bày: Bà là vợ của ông Phan Xô Viết . Khi bà và ông V kết hôn thì vợ chồng bà có sinh sống một thời gian trên diện tích đất tranh chấp. Bà xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp là tài sản chung của ông C, ông A và ông V. Nay bà yêu cầu bà H1 và các con bà H1 trả lại cho vợ chồng bà 1 diện tích đất và 1/3 số tiền bồi thường.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 162/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn C, ông Phan Xô V tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản với bà Nguyễn Thị Ngọc H1, anh Phan Văn T, anh Phan Thành T1. Đối với quyền sử dụng đất diện tích đất 3.597,9m², thửa 168, 208, tờ bản đồ số 05 (BĐ 2005), tương ứng các thửa 672, 634, 635, tờ bản đồ số 01 (BĐ 299), đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; loại đất: đất ở nông thôn (ONT) và đất trồng cây lâu năm (CLN); có tứ cận: Hướng đông giáp đất ông ông Nguyễn Văn H5, dài 98,26m + 17,77m; Hướng tây giáp đất ông Đặng Văn T4, dài 340,11m + 34,49m + 12,07m + 14,95m; Hướng nam giáp đường nhựa, dài 36,9m; Hướng bắc giáp đất ông Đặng Văn T4, dài 33,69m (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo) và quyền sở hữu tiền bồi thường quyền sử dụng đất 165.931.200 (Một trăm sáu mươi lăm triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm) đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, nguyên đơn ông Phan Văn C, ông Phan Xô V có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn C, ông Phan Xô Viết .
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- + Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đất tranh chấp không phải là tài sản chung; không đủ điều kiện chia tài sản chung. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Sửa Bản án sơ thẩm về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn C, ông Phan Xô V nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Ông C, ông V kiện yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất do cụ T3, cụ H4 chết để lại; cho nên quan hệ tranh chấp là chia tài sản chung quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là Đòi tài sản quyền sử dụng đất là không chính xác.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Phan Văn C, ông Phan Xô V thấy rằng.
[2.1] Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 3.597,9m² thửa 168, 208, tờ bản đồ số 05 (Bản đồ 2005) do ông A kê khai, đăng ký (tương ứng các thửa 672, 634, 635, tờ bản đồ số 01 (Bản đồ 299). Trong đó thửa 672 ông A được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20-3-1993.
[2.2] Về nguồn gốc đất: tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ruộng ngày 31-5-1993, ông A kê khai thửa 672 bản đồ K1 diện tích 1.500m2, nguồn gốc ông, bà để lại. Ông C, ông V cho rằng đất có nguồn gốc của Cụ T3, cụ H4 chết để lại nhưng không đưa ra được chứng cứ, chứng minh.
[2.3] Phần đất tranh chấp diện tích 3.597,9m² nằm trong tổng diện tích 18.855m² ông A quản lý, sử dụng trước năm 1993, sau đó kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Thị xã T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông A chết, bà H1 (vợ ông A) và các con là anh T, anh T1 tiếp tục quản lý, sử dụng đất cho đến khi xảy ra tranh chấp đã trên 30 năm, nhưng phía nguyên đơn không có ý kiến gì.
[2.4] Ông C, ông V từ trước đến nay không quản lý sử dụng, không kê khai, đăng ký đất tranh chấp; ông A kê khai, đăng ký các ông C, ông V không khiếu nại.
[2.5] Cụ T3 chết năm 1981, cụ H4 chết năm 1977 đến khi khởi kiện đã trên 30 năm, hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế. Sau khi cụ T3, cụ H4 chết những người thừa kế không có văn bản xác nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung chưa chia. Ông C, ông V khởi kiện yêu cầu chia mỗi người hưởng 1/3 diện tích đất trong tổng diện tích đất 3.597,9m² và yêu cầu chia mỗi người hưởng 1/3 trong tổng số tiền 165.931.200 đồng bồi thường quyền sử dụng đất; là chưa đủ căn cứ theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, ông V là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Từ những phân tích nêu trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ nên không chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận. Về phần tiền án phí không có kháng cáo, kháng nghị, nên không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
[5] Về tiền án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, ông V phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm; ông C là người cao tuổi nên được miễn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn C, ông Phan Xô Viết .
- Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số: 162/2023/DS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn C, ông Phan Xô V tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Phan Văn T, anh Phan Thành T1. Đối với quyền sử dụng đất diện tích 3.597,9m², thửa 168, 208, tờ bản đồ số 05 (BĐ 2005), tại ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận: hướng đông giáp đất ông ông Nguyễn Văn H5, dài 98,26m + 17,77m; hướng tây giáp đất ông Đặng Văn T4, dài 340,11m + 34,49m + 12,07m + 14,95m; hướng nam giáp đường nhựa, dài 36,9m; hướng bắc giáp đất ông Đặng Văn T4, dài 33,69m (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo) và 165.931.200 đồng tiền bồi thường quyền sử dụng đất.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Phan Xô V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0015103 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng (đã nộp xong). Ông Phan Văn C được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 187/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất
- Số bản án: 187/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia tài sản chung quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông cảnh, ông Viết kháng cáo yêu cầu chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn
