|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 187/2023/HS - ST Ngày: 19 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Mạnh Hùng
- 2. Bà Bùi Thị Kim Loan
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thái Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số160/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Hữu D (tên gọi khác: không), giới tính: Nam, sinh ngày 07/9/2002, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: Tổ G, khu I, phường M, thành phố C. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: lớp 09/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: Phạm Hữu D1. Con bà: Nguyễn Thị X. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 12/9/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2003 (nơi cư trú: tổ G, khu C, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- -Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 27/7/1980 (nơi cư trú: tổ G, khu C, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.
- - Anh Đinh Thiên H, sinh ngày 10/8/1990 (nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.
Người làm chứng: ông Phạm Hữu D1, sinh ngày 07/5/1969 và chị Phạm Thanh T1, sinh 22/5/2007 (nơi cư trú: tổ G, khu I, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Hữu D quen biết anh Nguyễn Văn N do cả 02 thường ngồi chơi điện tử tại quán Đ ở tổ B, khu F, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. D thấy anh N thường đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-684.68 (của mẹ Nguyễn Văn N là chị Nguyễn Thị T) đến để tại quán điện tử. Ngày 13/5/2023, D đang ngồi chơi tại quán Đức A thì anh N đi xe mô tô trên đến và ngồi chơi cạnh D. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, do cần về nhà ăn cơm, D hỏi mượn xe của anh N và hứa ăn cơm xong sẽ mang xe trả lại thì anh N đồng ý, giao chìa khóa xe. Trên đường về, D nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên bán lấy tiền ăn tiêu, nên đã mang đến quán H1 tại tổ A, khu C, phường C, thành phố C, bán cho anh Đinh Thiên H (chủ quán) được 8.500.000 đồng, rồi bỏ trốn. Đến tối cùng ngày không thấy D trả xe, anh N đã đến nhà D đòi nhưng chỉ gặp em gái D là chị Phạm Thanh T1. Chị T1 nhắn tin cho D để hỏi thì D cho biết nơi bán xe rồi chặn liên lạc với chị T1. Sau đó, chị T1 thông báo lại cho anh N. Sáng ngày 14/5/2023 anh N đến quán H1 phát hiện D đã bán xe tại đây nên đã đến Công an trình báo. Ngày 15/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô trên cùng giấy tờ xe trả lại cho chủ sở hữu; thu giữ 01 giấy bán xe và đoạn clip ghi lại việc mua bán xe. Sau khi bán xe, D bỏ trốn đến ở tại nhiều quán Internet tại tỉnh Hải Dương và tiêu hết số tiền bán xe, đến ngày 12/9/2023, D đến Công an đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá số 31/KL-ĐG ngày 16/6/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận chiếc xe mô tô Honda Wave, biển số 18H1-684.68 có giá trị 15.130.000 đồng.
Bị hại cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng có lời khai phù hợp với nội dung vụ án. Anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T đã được Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô và giấy tờ xe, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Đinh Thiên H không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-684.68 mà anh đã mua của Phạm Hữu D vào khoảng 17h ngày 13/5/2023 tại cửa hàng “Xe máy cũ H” là do D phạm tội mà có vì khi bán xe D bảo là chiếc xe trên là của mẹ D và cho D mang đến bán cho anh, xe cũng có đầy đủ giấy tờ xe, nên anh tin tưởng D. Khi mua bán xe hai bên có viết giấy tờ bán xe và anh đã quay Video ghi lại toàn bộ sự việc. Nay anh yêu cầu bị cáo D bồi thường 8.500.000 đồng bằng số tiền anh đã bỏ ra mua xe.
Bị cáo, bị hại cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về Kết luận định giá số 31/KL-ĐG ngày 16/6/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng hình sự thành phố C.
Cáo trạng số 167/CT - VKSCP ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Phạm Hữu D về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1,khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Điều 357, Điều 468, Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự. Xử phạt Phạm Hữu D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 12/9/2023. Phạm Hữu D phải trả lại cho anh Đinh Thiên H 8.500.000đồng.
Lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng người làm chứng và các chứng cứ tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như: biên bản kiểm tra và sơ đồ xác định nơi xảy ra sự việc, bản ảnh hiện trường vụ việc, bản ảnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-684.68, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, Kết luận định giá số 31/KL-ĐG ngày 16/6/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng hình sự thành phố C, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy phù hợp với nhau về không gian, thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc, cách thức cũng như tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại.
Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/5/2023, tại tổ B, khu F, phường M, thành phố C, Phạm Hữu D mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-684.68, trị giá 15.130.000 đồng của anh Nguyễn Văn N để sử dụng, sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt, D đem bán cho anh Đinh Thiên H được 8.500.000 đồng và bỏ trốn, ăn tiêu hết.
Hành vi nêu trên của Phạm Hữu D đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 175 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;”
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm tư hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do bản chất lười lao động, ham chơi nên đã đi vào con đường phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên cũng xét: bị cáo đã ra đầu thú thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại và bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng dù có xem xét chiếu cố đến đâu cũng cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-684.68 đã được trả cho bị hại và anh Nguyễn Văn N cùng chị Nguyễn Thị T không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Đinh Thiên H không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-684.68 mà anh đã mua của Phạm Hữu D là do phạm tội mà có. Do đó, xét yêu cầu của anh H Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải trả lại cho anh Đinh Thiên H 8.500.000đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng) là tiền anh H đã bỏ ra mua chiếc xe trên.
[6] 01 USB và 01 giấy bán xe giao kèm hồ sơ được lưu trong hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự và án phí Dân sự theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
3
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 357, Điều 468, 584, 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Hữu D phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Phạm Hữu D 11 ( mười một ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 12/9/2023.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Phạm Hữu D phải trả cho anh Đinh Thiên H 8.500.000đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không chịu thi hành số tiền nói trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
01 USB và 01 giấy bán xe giao kèm hồ sơ được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: bị cáo Phạm Hữu D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 425.000đồng (bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí Dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |
5
Bản án số 187/2023/HS - ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 187/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: bị cáo Phạm Hữu Duy phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: bị cáo Phạm Hữu Duy 11 ( mười một ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 12/9/2023. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Phạm Hữu Duy phải trả cho anh Đinh Thiên Hoàng 8.500.000đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng).
