Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số:187/2024/HSST

Ngày: 19-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Vũ Thị Liên Minh- Chu Văn Hùng

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Văn N, tên gọi khác: không, sinh ngày 29/3/1969, tại Thái Nguyên, giới tính: Nam, nơi thường trú: tổ D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; Con ông: Ngô Ngọc Y (đã chết) và bà: Nguyễn Thị K; vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn), có 03 con chung; Tiền sự không

Tiền án: 01- Tại bản án số 56/2022/HSST ngày 24/5/2022 Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 03/12/2023.

Nhân thân: 01- Tại bản án số 09/2016/HSST ngày 06/4/2016 Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 25/5/2019.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay, hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên tòa).

*Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1971, nơi thường trú: xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/4/2024, Ngô Văn N đi xe buýt từ nhà đến khu vực phường T, thành phố T, tiếp tục đi nhờ xe mô tô của người không quen biết trên đường để đi đến khu vực xóm T, xã Đ, thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, N gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa Heroine với giá 200.000 đồng, nhận được gói ma túy N cầm trong lòng bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng, N vừa đi bộ được một đoạn thì gặp Tổ công tác của Công an xã Đ, thành phố T thấy nghi vấn yêu cầu kiểm tra hồi 11 giờ 40 phút cùng ngày. Quá trình kiểm tra, N tự giác lấy trong lòng bàn tay phải ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp đồng thời khai nhận là ma túy, H2 mua để sử dụng, Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, ngoài ra không thu giữ gì thêm. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân xác định: số chất bột màu trắng thu giữ trong bì niêm phong ký hiệu A của Ngô Văn N có khối lượng là 0,16 gam, niêm phong ký hiệu Al gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 496/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,16 gam.

Cáo trạng số 182/CT-VKS-TPTN ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Ngô Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận do nghiện nên đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bị lực lượng công an kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma túy như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn N từ 24-30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu A1, A2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì, tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc, phù hợp với vật chứng thu giữ và Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh T về số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo là Heroine. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 30 ngày 01/4/2024, Ngô Văn N đi từ nhà đến khu vực xóm T, xã Đ, thành phố T mua của người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa ma túy. Sau khi nhận ma túy, N cầm trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng, thì gặp tổ công tác Công an xã Đ, thành phố T thấy nghi vấn yêu cầu kiểm tra hồi 11 giờ 40 phút cùng ngày. Quá trình kiểm tra, bị cáo tự giác giao nộp gói ma túy và khai nhận là ma túy mua với mục đích sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành cân kiểm tra xác định chất bột màu trắng có khối lượng 0,16 gam, qua giám định là ma túy, loại Heroine.

[3] Với hành vi mua 0,16 gam Heroine cất giữ với mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác. Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân, làm suy thoái giống nòi, làm khánh kiệt kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy tuy nhiên vẫn mua ma túy với mục đích phục vụ cho nhu cầu của bản thân do đó phải xử lý bị cáo bằng pháp luật Hình sự.

3

[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân xấu, mặc dù nhận thức được tác hại của ma túy, đã nhiều lần bị xét xử về hành vi liên quan đến ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, bản thân, không từ bỏ ma túy lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội do đó cần phải xét xử nghiêm khắc đối với bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét, bị cáo là đối tượng nghiện, mua ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng: Đối với bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong chứa ma túy và phong bì niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng bị tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Về nguồn gốc heroine bị thu giữ: Ngô Văn N khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm T, xã Đ, thành phố T quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên chưa có căn cứ xem xét.

[10] Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo phù hợp được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Ngô Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Ngô Văn N 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

4

- 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 213 lập ngày 11/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Ngô Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh TN;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Bích Hiền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 187/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua 0,16 gam Heroine cất giữ với mục đích để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger