TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/7/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến.
Ông Đặng Thiên Hùng.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 15/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TB-TLST ngày 23/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1998 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi đăng ký thường trú: thôn Đồng Sau, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở: xóm Bến, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: anh Trịnh Văn K, sinh năm: 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài).
+ Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của anh K là bà Đinh Thị Q, sinh năm: 1972 có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 02/5/2024 nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày :
Về quan hệ hôn nhân: sau thời gian tìm hiểu chị và anh Trịnh Văn K đã đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang ngày 23/01/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2022 anh K đi lao động tại nước ngoài để phát triển kinh tế, thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, tuy nhiên sau một thời gian thì vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân nhau và chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Văn K.
Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018. Nay ly hôn chị đề nghị giao cháu Trịnh Tú U cho chị nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia các phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh K được. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh Trịnh Văn K.
Chị đề nghị Tòa án xác minh thu thập, tài liệu chứng cứ về việc anh K đang ở nước ngoài nhưng chị không rõ địa chỉ để làm căn cứ Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của chị.
Bị đơn anh Trịnh Văn K có bản tự khai ngày 17/5/2024 (có xác nhận của T tại Nhận Bản) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh và chị H đến với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2022 anh đi sang nước ngoài lao động, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung vợ chồng đã sống ly thân nhau và không còn quan tâm tới nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được chị Nguyễn Thị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị H
Về con chung: vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018 hiện đang ở với chị H. Nay ly hôn anh đồng ý giao cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018 chị chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, anh đang lao động tại Nhật Bản nên không về tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị H và anh được. Vì vậy, anh đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị H và anh. Anh cũng ủy quyền cho bà Đinh Thị Q, sinh năm: 1972, có địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, thành phố B thay mặt anh nộp bản tự khai, nhận bản án, trích lục và các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh và thông báo lại cho anh biết.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bị đơn anh Trịnh Văn K đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H, bản tự khai của anh K và tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
- + Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: đối với nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt chị H, anh K.
- + Về nội dung đề nghị: căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trịnh Văn K.
- + Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Trịnh Văn K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.
+ Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị H, anh Trịnh Văn K đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh K.
- Về thẩm quyền: chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Trịnh Văn K, anh K hiện đang cư trú và lao động tại nước ngoài (theo Công văn số 9853/QLXNC-P3 ngày 10/5/2024 của Cục Q1- Bộ C thì anh K đã xuất cảnh ngày 13/5/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước). Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ Hôn nhân: chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có tìm hiểu có đăng ký kết hôn ngày 23/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đầu. Đến năm 2022 thì anh K đi lao động tại Nhật Bản thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Cả hai anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H xin ly hôn anh K, anh K cũng đồng ý ly hôn với chị H, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị H được ly hôn vì xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và tình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Hội đồng xét xử thấy, chị H và anh K đã ly thân một thời gian, về tình cảm không còn, kinh tế cũng hoàn toàn độc lập, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H anh K được ly hôn.
- Về con chung: chị H và anh K có 01 con chung là cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018. Ly hôn chị H và anh K đều đề nghị Toà án giao cho chị H nuôi dưỡng con chung.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về yêu cầu nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh K đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Trịnh Văn K từ khi đi nước ngoài thì cháu Trịnh Tú U vẫn do chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về nuôi con chung là cháu Trịnh Tú U, giao cho chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung là cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018 đến khi cháu U tròn 18 tuổi là phù hợp điều kiện thực tế .
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Anh Trịnh Văn K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.
Trường hợp anh Trịnh Văn K về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Về tài sản chung, công nợ: chị H và anh K đều xác định không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị H đã nộp đủ.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trịnh Văn K.
- Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trịnh Tú U, sinh ngày 08/12/2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Trịnh Văn K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001205 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo bản án: chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Nguyễn Văn K hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
Bản án số 187/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 187/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: *Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1998 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi đăng ký thường trú: thôn Đồng Sau, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: xóm Bến, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. *Bị đơn: anh Trịnh Văn K, sinh năm: 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt) Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài).
