|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 187/2024/HS-ST Ngày: 13-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tú.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thủy và bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường, Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cảm, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Mỹ T, sinh ngày 27/11/1974 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số F đường L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950; chồng: Trương Quang B (đã chết), con: Có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sinh sống cùng gia đình, đi học hết lớp 7/12 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình. Từ năm 1999 thì kết hôn và kinh doanh buôn bán tại chợ T2, thành phố H.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ từ ngày 30/11/2023 đến ngày 08/12/2023 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Ông Hà Văn V, sinh năm 1959; địa chỉ: Số F đường L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ tháng 8/2022 đến tháng 11/2023, Nguyễn Thị Mỹ T hoạt động cho vay lãi nặng nhằm mục đích thu lợi bất chính đối với các cá nhân có nhu cầu vay tiền để chi tiêu hoặc giải quyết công việc với mức lãi suất từ 120%/năm đến 121,67%/năm, gấp từ 6 lần đến 6,08 lần so với mức lãi suất cao nhất là 20%/năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, cụ thể:
1. Ông Nguyễn Đức T1 vay của Nguyễn Thị Mỹ T 08 lần như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 28/8/2022, T cho ông T1 vay số tiền 30.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 600.000 đồng (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay ông T1 trả đủ cho T số tiền 36.000.000 đồng, gồm 30.000.000 đồng tiền gốc và 6.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 986.301 đồng và tiền lãi không hợp pháp là 5.013.699 đồng.
- Lần thứ hai: Ngày 06/10/2022, T cho ông T1 vay số tiền 30.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 600.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay ông T1 trả đủ cho T số tiền 36.000.000 đồng, gồm 30.000.000 đồng tiền gốc và 6.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 986.301 đồng và tiền lãi không hợp pháp là 5.013.699 đồng.
- Lần thứ ba: Ngày 07/10/2022, T cho ông T1 vay số tiền 20.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 400.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay ông T1 trả đủ cho T số tiền 24.000.000 đồng, gồm 20.000.000 đồng tiền gốc và 4.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 657.534 đồng và tiền lãi không hợp pháp là 3.342.466 đồng.
- Lần thứ tư: Ngày 27/10/2022, T cho ông T1 vay số tiền 30.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 600.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngay. Khoản vay ông T1 trả đủ cho T số tiền 36.000.000 đồng, gồm 30.000.000 đồng tiền gốc và 6.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 986.301 đồng và tiền lãi không hợp pháp là 5.013.699 đồng.
- Lần thứ năm: Ngày 31/10/2022, T cho ông T1 vay số tiền 30.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 600.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay ông T1 trả đủ cho T số tiền 36.000.000 đồng, gồm 30.000.000 đồng tiền gốc và 6.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 986.301 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 5.013.699 đồng.
- Lần thứ sáu: Ngày 09/11/2023, T cho ông T1 vay số tiền 100.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 2.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay này ông T1 trả cho T số tiền 40.000.000 đồng, gồm 33.333.333 đồng tiền gốc và 6.666.667 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 1.095.890 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 5.570.777 đồng. Ông T1 còn nợ T số tiền 80.000.000 đồng, gồm 66.666.667 đồng tiền gốc và 13.333.333 đồng tiền lãi theo thỏa thuận.
- Lần thứ bảy: Ngày 10/11/2023, T cho ông T1 vay số tiền 50.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 1.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay này ông T1 trả cho T số tiền 19.000.000 đồng, gồm 15.833.333 đồng tiền gốc và 3.166.667 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 520.548 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 2.646.119 đồng. Ông T1 còn nợ T số tiền 41.000.000 đồng, gồm 34.166.667 đồng tiền gốc và 6.833.333 đồng tiền lãi theo thỏa thuận.
- Lần thứ tám: Ngày 21/11/2023, T cho ông T1 vay số tiền 100.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi ngày trả gốc và lãi 2.000.000 đồng/ngày (tương đương mức lãi suất 121,67%/năm), thời hạn vay 60 ngày. Khoản vay này ông T1 trả cho T số tiền 16.000.000 đồng, gồm 13.333.333 đồng tiền gốc và 2.666.667 đồng tiền lãi. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 438.356 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 2.228.311 đồng. Ông T1 còn nợ T số tiền 104.000.000 đồng, gồm 86.666.667 đồng tiền gốc và 17.333.333 đồng tiền lãi theo thỏa thuận.
Như vậy, trong 08 lần cho ông T1 vay với tổng số tiền gốc là 390.000.000 đồng; tổng số tiền lãi hợp pháp T đã thu là 6.657.532 đồng; tổng số tiền lãi bất hợp pháp (thu lợi bất chính) T đã thu là 33.842.468 đồng.
Đối với số tiền ông T1 còn nợ là 225.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc là 187.500.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận là 37.500.000 đồng), ông T1 đã chủ động trả số tiền gốc là 149.000.000 đồng. Hiện ông T1 còn nợ bị cáo số tiền gốc là 38.500.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận là 37.500.000 đồng.
2. Ông Hà Văn V vay của Nguyễn Thị Mỹ T 04 lần như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 22/4/2023, T cho ông V vay số tiền 20.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng trả tiền lãi 2.000.000 đồng (tương đương mức lãi suất 120%/năm), thời hạn vay tính đến ngày 29/11/2023. Khoản vay này ông V trả tiền lãi cho T 07 tháng với tổng số tiền 14.000.000 đồng. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 2.333.333 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 11.666.666 đồng. Ông V đã trả đủ số tiền gốc cho T.
- Lần thứ hai: Ngày 22/8/2023, T cho ông V vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng trả tiền lãi 500.000 đồng (tương đương mức lãi suất 120%/năm), thời hạn vay tính đến ngày 29/11/2023. Khoản vay này ông V trả tiền lãi cho T 03 tháng với tổng số tiền 1.500.000 đồng. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 250.000 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 1.250.000 đồng. Ông V đã trả đủ số tiền gốc cho T.
- Lần thứ ba: Ngày 19/10/2023, T cho ông V vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng trả tiền lãi 500.000 đồng (tương đương mức lãi suất 120%/năm), thời hạn vay tính đến ngày 29/11/2023. Khoản vay này ông V trả tiền lãi cho T 01 tháng với số tiền 500.000 đồng. Trong đó tiền lãi hợp pháp là 83.333 đồng và tiền lãi bất hợp pháp là 416.666 đồng. Ông V đã trả đủ số tiền gốc cho T.
- Lần thứ tư: Ngày 19/11/2023, T cho ông V vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng trả tiền lãi 500.000 đồng (tương đương mức lãi suất 120%/năm), thời hạn vay tính đến ngày 29/11/2023. Khoản vay này ông V đã trả đủ tiền gốc cho T nhưng chưa trả lãi.
Như vậy, trong 04 lần cho ông V vay với tổng số tiền gốc là 35.000.000 đồng; tổng số tiền lãi hợp pháp T đã thu là 2.666.666 đồng; tổng số tiền lãi bất hợp pháp (thu lợi bất chính) T đã thu là 13.333.332 đồng.
Tổng cộng Nguyễn Thị Mỹ T đã cho 02 người vay tiền với 12 hợp đồng, tổng cộng 425.000.000 đồng với mức lãi suất từ 120%/năm đến 121,67%/năm, cao gấp 6 lần đến 6,08 lần mức lãi suất mà Bộ luật Dân sự quy định là 20%/năm, thu tiền lãi hợp pháp số tiền 9.324.201 đồng, thu lợi bất chính tổng số tiền là 47.175.799 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 quyển sổ bên ngoài được bọc chất liệu giả da màu đen, kích thước (10 x 15 x 1) cm.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 quyển sổ bên ngoài được bọc chất liệu giả da màu đen, kích thước (10 x 15 x 1) cm không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đức T1 yêu cầu Nguyễn Thị Mỹ T trả lại số tiền thu lợi bất chính 33.842.468 đồng, ông Hà Văn V không có yêu cầu gì.
Tại bản Cáo trạng số 158/CT-VKSTPH ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T nộp lại số tiền 387.148.402 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo T và ông T1 đã xác nhận ông T1 đã trả hết số tiền còn nợ bị cáo T. Ông Nguyễn Đức T1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T trả lại cho ông Nguyễn Đức T1 số tiền 33.842.468 đồng tiền thu lợi bất chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Từ tháng 8/2022 đến tháng 11/2023, tại địa bàn thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Thị Mỹ T đã có hành vi cho ông Nguyễn Đức T1 và ông Hà Văn V vay tổng cộng 12 khoản vay, tổng số tiền cho vay 425.000.000 đồng với lãi suất cho vay từ 120%/năm đến 121,67%/năm, cao gấp 6 lần đến 6,08 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Nguyễn Thị Mỹ T thu lợi bất chính số tiền là 47.175.800 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà hành vi của bị cáo còn làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên việc vay mượn là do người vay tự nguyện, bị cáo không có hành vi dụ dỗ, ép buộc và cũng chưa có hành vi nào gây ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm của người vay.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng trên địa bàn thành phố H nói riêng và cả nước nói chung nên cần phải xử lý nghiêm để bị cáo có điều kiện được giáo dục trở thành người công dân tốt cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T là người có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Do bị cáo phải nộp lại số tiền rất lớn, công việc, thu nhập của bị cáo thấp và không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 quyển sổ bên ngoài được bọc chất liệu giả da màu đen, kích thước (10 x 15 x 1) cm không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự:
Đối với khoản tiền bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T cho vay với tổng số tiền 425.000.000 đồng được xác định phương tiện phạm tội và số tiền lãi không vượt quá mức lãi suất tối đa quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 9.324.201 đồng được xác định là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần buộc bị cáo T phải nộp lại để sung ngân sách nhà nước. Tổng số tiền bị cáo T phải nộp là 434.324.000₫ (làm tròn).
Đối với số tiền 33.842.468 đồng bị cáo thu lợi bất chính của ông Nguyễn Đức T1, số tiền 13.333.332 đồng bị cáo thu lợi bất chính của ông Hà Văn V. Cả ông T1, ông V đều không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 30/11/2023 đến ngày 08/12/2023 tương đương với 27 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế có trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T nộp lại số tiền 434.324.000₫ (Bốn trăm ba mươi bốn triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Tú |
Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 187/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mỹ Trang " Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
