|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HOÀ TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án: 187/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 7 - 2024 “V/v Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 669/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 155/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy A, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Số B, Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. - Bị đơn: Ông Trương Quốc V, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Số B, Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà A và ông V xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 23 tháng 5 năm 2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trần Thị Thúy A trình bày: Bà Trần Thị Thúy A và ông Trương Quốc V chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 10 tháng 9 năm 2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay bà A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên xin ly hôn ông V.
Về con chung: Bà A khai, bà A và ông V chung sống có 01 con chung tên Trương Tiểu K, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2007. Khi ly hôn, bà A đồng ý giao con chung cho ông V nuôi và bà A không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà A khai, bà A và ông V chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà A khai, bà A và ông V chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại lời trình bày của ông Trương Quốc V: Ông V xác định lợi trình bày của bà A về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung và nợ chung giữa ông V và bà A theo bà A trình bày là đúng. Nay bà A xin ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trương Tiểu K, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2007. Khi ly hôn, ông V xin được quyền tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả thẩm tra, xét hỏi tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình; Bị đơn ông Trương Quốc V có hộ khẩu thường trú tại số B, Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [1.2] Nguyên đơn bà Trần Thị Thúy A và bị đơn ông Trương Quốc V đều xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà A và ông V.
[2] Về nội dung vụ án:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy A và ông Trương Quốc V chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 10 tháng 9 năm 2007 nên quan hệ hôn nhân của bà A và ông V được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay bà A và ông V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên đồng ý thuận tình ly hôn. Xét việc thuận tình ly hôn giữa bà A và ông V là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- [2.2] Về con chung: Bà A và ông V thống nhât khai, bà A và ông V chung sống có 01 con chung tên Trương Tiểu K, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2007. Khi ly hôn, bà A và ông V thỏa thuận: Ông V được quyền tiếp tục nuôi con chung và bà A không phải cấp dưỡng nuôi con vì ông V không yêu cầu. Xét sự thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn giữa bà A và ông V là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- [2.3] Về tài sản chung: Bà A và ông V thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- [2.4] Về nợ chung: Bà A và ông V thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- [3] Về án phí: Buộc bà Trần Thị Thúy A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thúy A xin ly hôn với ông Trương Quốc V.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy A được ly hôn với ông Trương Quốc V.
Về con chung: Ông Trương Quốc V được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trương Tiểu K, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2007 hiện ông V đang nuôi. Bà Trần Thị Thúy A không phải cấp dưỡng nuôi con vì ông V không yêu cầu.
Bà Trần Thị Thúy A có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom cháu K mà không ai được cản trở. Trường hợp bà A lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà A theo quy định của pháp luật. Ông V cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của bà A.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì ông V, bà A, người thân thích của cháu K, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn
Về tài sản chung: Bà A và ông V thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về nợ chung: Bà A và ông V thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về án phí: Buộc bà Trần Thị Thúy A phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí mà bà A đã nộp theo biên lai số 4662 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà sang án phí để thi hành.
Án này là sơ thẩm, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
Bản án số 187/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 187/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hon
