Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2024/HS-ST

Ngày 10-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 162/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 742/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang V, sinh năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: 27D lô 1 tập thể Xi Măng, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: E Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc D và bà Lê Thị D1; chưa có vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 60/HSST/2006 ngày 09/3/2006 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 32/HSST/2007 ngày 28/6/2007 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 60/HSST/2006 ngày 09/3/2006 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng buộc bị cáo phải chấp hành là 08 năm tù; Bản án số 21/HSST/2018 ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đều đã được xóa); ngoài ra ngày 24/4/2024 Nguyễn Quang V bị Tòa án nhân dân quận Hồng

Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 24/4/2024); bị tạm giữ từ ngày 07/12/2023 (Theo Quyết định tạm giữ số 178/QĐ-ĐCSHS ngày 07/12/2023 của Công an quận H); tạm giam ngày 16/12/2023 (Theo lệnh tạm giam số 155/LTG-ĐCSHS ngày 15/12/2023 của Công an quận H); tạm giam ngày 04/6/2024 (Theo Lệnh tạm giam số 446/LTG-CQCSĐT(CSHS) ngày 04/6/2024 của Công an quận L); có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Chị Đoàn Thị Y, sinh năm 2005; nơi cư trú: Số D lô E ngõ A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/12/2023, Nguyễn Quang V bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản ngày 30/11/2023 tại địa bàn quận H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của V tại số E Đ, phường S, quận H, Hải Phòng, thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Creafi màu xanh BKS: 15AA-18480; 01 xe mô tô nhãn hiệu Scoopy BKS: 15AA-28865 màu đen xám; 01 BKS 15AA-26959. V khai nhận 02 xe mô tô trên là vật chứng trong 02 vụ trộm cắp tài sản mà V thực hiện ngày 06/12/2023 tại địa bàn huyện A và quận L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H chuyển vật chứng là 02 chiếc xe mô tô và biển số trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L để xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quang V khai nhận: Do bản thân không có việc làm ổn định, không có tiền tiêu xài, Nguyễn Quang V nảy sinh ý định lợi dụng sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trong ngày 06/12/2023, Nguyễn Quang V đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện A và quận L, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 06/12/2023, Nguyễn Quang V đi bộ từ nhà đến dãy nhà L7B9 chung cư H, A, A, Hải Phòng, phát hiện thấy nhà số A dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Creafi, màu xanh BKS: 15AA-26959 của chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2000, nơi cư trú: thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng không có người trông coi nên đã dắt chiếc xe trên mang về cất giấu tại nhà ở số E Đ, phường S, quận H, Hải Phòng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận : 01 xe mô tô nhãn hiệu Creafi, màu xanh BKS: 15AA-26959 có giá trị 10.500.000 đồng.

2

Vụ thứ 2: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 06/12/2023, V đi đến khu tập thể L A, phường A, quận L, Hải Phòng phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Scoopy BKS: 15AA-18480 màu đen xám của chị Đoàn Thị Y, sinh năm 2005, nơi cư trú: số D, lô E ngõ A T, phường A, Quận L, Hải Phòng đang dựng trước cửa nhà không có người trông coi, V đi đến dắt xe về nhà mình. Khoảng 08 giờ cùng ngày, V thấy 01 nam giới làm nghề sửa khóa (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi qua cửa nhà nên đã thuê làm 02 chìa khóa của 02 xe mô tô mà V trộm cắp được. Sau đó V dùng máy mài, mài xóa số khung, số máy của xe mô tô nhãn hiệu Scoopy và tháo BKS 15AA-18480 từ xe mô tô Scoopy lắp sang xe mô tô nhãn hiệu Creafi, lấy BKS 15AA-28865 mà V nhặt được trước đó (V không nhớ vị trí nhặt được) lắp sang xe Scoopy, còn biển số 15AA-18480, V để tại nhà.

Ngày 18/12/2023, chị Đoàn Thị Y đến Công an phường A trình báo về việc: vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 04/12/2023 chị có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Scoopy màu đen xám BKS: 15AA-18480 trước cửa nhà, đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/12/2023 chị Y phát hiện chiếc xe của mình bị mất.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12 ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận L, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám có giá trị 5.100.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 93 ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Creafi, màu xanh có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Xe mô tô nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám bị tẩy xóa số khung, số máy bằng phương pháp mài nên không xác định được số khung, số máy của xe. Đối với 03 BKS: 15AA-18480; 15AA-28865; 15AA-26959 là BKS thật.

Ngoài ra, V khai: Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà chị Q và chị Y, V có rủ Nguyễn Hùng V1, sinh năm 1987, địa chỉ: đường C, tổ I A, xã A, huyện A, Hải Phòng tham gia cùng, V1 đồng ý và dùng xe mô tô của V1 chở V đi trộm cắp tài sản (V không nhớ loại xe và biển số). Khi trộm cắp tài sản, V đứng ngoài cảnh giới còn V1 đi vào dắt xe ra, V1 ngồi trên xe mô tô vừa trộm cắp được, V điều khiển xe mô tô của V1 dùng chân đẩy xe trộm cắp được mang về nhà V1 cất giấu, sau đó V chuyển xe trộm cắp được từ nhà V1 về nhà V.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hùng V1, khai: Việt sống một mình tại căn nhà lá tại đường C, xã A, huyện A, Hải Phòng. Căn nhà trên V1 được anh Phạm Văn N, sinh năm 1976, địa chỉ: thôn A, xã A, huyện A, Hải Phòng là bạn bè xã hội cho ở nhờ. V1 có quen biết với Nguyễn Quang V, thỉnh thoảng V có đến chỗ V1 ở để chơi. Ngày 06/12/2023, V chỉ nằm ngủ tại nhà ở đường C, xã A, huyện A, Hải Phòng và không ra ngoài, V1 không đến gặp V và V không đến nhà V1 ngày hôm đó. V1 không biết, chứng kiến việc V trộm cắp xe mô tô như thế nào, V1 cũng không tham gia cùng V, V1 không có xe máy, không đăng ký tạm trú tại căn nhà lá mà anh N cho mượn.

3

Tại Cơ quan điều tra anh Nguyễn Văn N1, khai: anh có quan hệ quen biết xã hội đối với Nguyễn Hùng V1, anh cho V1 mượn căn nhà lá tại địa chỉ như trên từ tháng 9/2023 để sinh sống vì V1 không có chỗ ở. Anh N1 thấy V1 chỉ sống ở đó một mình, không có ai khác sinh sống cùng. Ngày 06/12/2023, anh N1 không biết V1 đi đâu, làm gì, anh N1 không thấy V1 có xe máy, V1 chưa đăng ký tạm trú tại địa chỉ nêu trên.

Cơ quan điều tra Công an quận L đã tiến hành lấy lời khai của anh Phạm Tiến D2, sinh năm 1986; chị Phạm Thị T, sinh năm 1990; bà Chu Thị N2, sinh năm 1964, cùng trú tại: số D C, xã A, huyện A, Hải Phòng đều thể hiện: Ngày 06/12/2023, không biết V1 đi đâu, làm gì, V1 không sử dụng xe máy, thường xuyên ở căn nhà lá C, xã A, huyện A, Hải Phòng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát Camera tại khu vực dãy nhà L7B9 khu chung cư H, A, huyện A; khu tập thể S A, phường A, quận L, Hải Phòng và khu đường C nơi Việt sinh sống để truy tìm hình ảnh liên quan đến vụ việc nhưng không có kết quả, tiến hành đối chất, Nguyễn Quang V và Nguyễn Hùng V1 vẫn giữ nguyên lời khai.

- Về vật chứng trong vụ án:

Đối xe mô tô nhãn hiệu Creafi màu xanh và BKS: 15AA-26959 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Như Q.

Đối với BKS: 15AA-28865, quá trình điều tra xác minh cấp cho xe mô tô nhãn hiệu DAELIMKORE, chủ sở hữu Dương Thùy A, sinh năm 2006, nơi cư trú: số D K, phường S, quận H, chị Thùy A khai: chị làm rơi BKS trên khi tham gia giao thông, hiện chị không còn sử dụng xe mô tô trên nên từ chối nhận lại BKS, do đó chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân để bảo quản và xử lý theo quy định.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480 do chị Đoàn Thị Y từ chối nhận lại, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân để bảo quản và xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị Như Q đã nhận lại tài sản, chị Q không yêu cầu V phải bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gi khác.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480 bị cáo chiếm đoạt của chi Đoàn Thị Yến đã được thu hồi tuy nhiên chị Y từ chối nhận lại do đã bị tẩy số khung, sô máy nên không sử dụng được. Tại giai đoạn điều tra chị Y yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 5.100.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường. Sau đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử - Ngày 05 tháng 8 năm 2024 chị Y có đơn trình bày gửi Tòa án, gia đình bị cáo đã bồi thường cho chi thỏa đáng nên chị không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường số tiền 5.100.000đồng nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

4

Tại Cáo trạng 176/CT-VKS ngày 29/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi của Nguyễn Hùng V1, hiện tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định V1 có đồng phạm với Nguyễn Quang V trong việc thực hiện 02 vụ án trộm cắp tài sản trên hay không. Ngày 29/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận L đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1693/QĐ-CSHS để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi Trộm cắp tài sản tại địa bàn quận H, ngày 24/4/2024, Nguyễn Quang V bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù giam.

Tại phiên tòa, Lê Quang V2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Quang V2 mức án từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 21 tháng tù của Bản án số 61/2014/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023 2023 (Theo Quyết định tạm giữ số 178/QĐ-ĐCSHS ngày 07/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt là xe moto nhãn hiệu Creafi màu xanh và BKS: 15AA-26959 đã được thu hổi trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Như Q, chị Q không yêu cầu, đề nghị gì khác. Đối với xe moto nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480, chị Đoàn Thị Y từ chối nhận lại, tuy nhiên bị cáo đã bồi thường cho chị Y đầy đủ, chị yến không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gi khác. Như vậy về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với BKS: 15AA-28865, quá trình điều tra xác minh xác định do Công an thành phố H cấp cho xe mô tô nhãn hiệu DAELIMKORE, chủ sở hữu Dương

5

Thùy A, sinh năm 2006, nơi cư trú: số D K, phường S, quận H. Quá trình sử dụng xe chị Thùy A làm rơi BKS trên khi tham gia giao thông, hiện chị không còn sử dụng xe mô tô trên nên từ chối nhận lại BKS nên giao lại cho Cơ quan Công an thành phố H xử lý theo thẩm quyền.

Đối với 01 xe moto nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480 bị tẩy số khung, số máy, bị hại từ chối nhận lại nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước (là tài sản do phạm tội mà có).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai bị hại; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 06/12/2023 tại nhà số A chung cư H, xã A, huyện A, Hải Phòng, Nguyễn Quang V đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Creafi màu xanh BKS: 15AA-26959 của chị Nguyễn Thị Như Q có giá trị 10.500.000 đồng; khoảng 03 giờ 30 phút, cùng ngày, tại nhà số D, khu tập thể L A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng V lén lút chiếm đoạt 01 xe moto nhãn hiệu Scoopy màu đen xám BKS: 15AA-1840 của chị Đoàn Thị Y có giá trị 5.100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản V chiếm đoạt là 15.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

6

[3] Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Nguyễn Quang V theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận bất an trong quần chúng, nhân dân nên cần xử lý nghiêm.

· Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Ngày 06/12/2023, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mà mỗi lần đều đủ cấu thành tội phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại (chị Đoàn Thị Y) có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo Nguyễn Quang V đã 03 lần bị kết án liên quan đến các tội phạm về xâm phạm sở hữu, ngoài ra ngày 24/4/2024 Nguyễn Quang V bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do hành vi phạm tội lần này của bị cáo được thực hiện ngày 06/12/2023 (trước khi Tòa án nhân dân quận Hồng bàng xét xử đối với bị cáo), nên hành vi phạn tội lần này của bị cáo không bị tính là tái phạm, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém, cần phải xử lý nghiêm, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự theo mức mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Do bị cáo Nguyễn Quang V hiện đang chấp hành Bản án số 61/2014/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nên cần áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 02 chiếc xe mô tô:

7

[10] Đối với xe moto nhãn hiệu Creafi màu xanh và BKS: 15AA-26959 bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Như Q đã được thu hổi trả cho chị Nguyễn Thị Như Q, chị Q không yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480 bị cáo chiếm đoạt của chi Đoàn Thị Yến đã được thu hồi, tuy nhiên bị hại ( chị Đoàn Thị Y ) từ chối nhận lại do đã bị tẩy số khung, sô máy. Nay bị cáo đã bồi thường cho bị hại đầy đủ, chị yến không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gi khác. Như vậy trách nhiệm bồi thường dân sự đã được giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

[12] Đối với BKS: 15AA-28865 thu giữ của bị cáo, bị cáo khai nhặt được, quá trình điều tra xác định BKS trên do Công an thành phố H cấp cho xe mô tô nhãn hiệu DAELIMKORE, chủ sở hữu Dương Thùy A, sinh năm 2006, nơi cư trú: số D K, phường S, quận H. Quá trình sử dụng xe chị Thùy A làm rơi BKS trên khi tham gia giao thông, hiện chị không còn sử dụng xe mô tô trên nên từ chối nhận lại BKS. Do đó căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao lại cho Cơ quan Công an thành phố H xử lý theo thẩm quyền.

[12] Đối với 01 xe moto nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480 là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, chủ sở hữu chiếc xe từ chối nhận lại tài sản nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang V 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 21 tháng tù của Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù.

8

Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023 (Theo Quyết định tạm giữ số 178/QĐ-ĐCSHS ngày 07/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H).

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 BKS: 15AA-28865 thu giữ của bị cáo giao Công an thành phố H xử lý theo thẩm quyền.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe moto nhãn hiệu Scoopy, màu đen xám và BKS 15AA-18480.

(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 29/7/2024 giữa Cơ quan Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Phong Lan

9

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 187/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Vinh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger