|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 187/2024/HS-ST Ngày 09 - 12 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Ông Dư Văn Thanh. | |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Huỳnh Đạt Phương. |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 174/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 168/2024/QĐXXST - HS ngày 12/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Thạch Hoàng C, sinh ngày: 15/01/1979 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số A đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch H (chết) và bà Dương Bạc K (chết); vợ, con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, đã được xoá án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
2. Dương Hoàng T, sinh ngày: 23/10/1982 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số G đường P, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thái B và bà Triệu Thị M; vợ tên Võ Thị P, con có 02 người; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Hoàng T nhận làm thuê đóng la phông và lắp dây điện cho người chủ tên T (không rõ họ tên và địa chỉ), sau đó, T thuê Thạch Hoàng C cùng làm chung. Vào khoảng 14 giờ, ngày 03 tháng 7 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T rủ C ứng tiền công để mua ma túy sử dụng thì C đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 83P2 - 406.64 chở C đi thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng gặp người tên chủ tên T để ứng tiền công. Khi đến nơi, C xuống xe đợi ở ngoài, còn T chạy xe vào nhà người chủ tên T để ứng tiền được 1.000.000 đồng. Sau khi ứng được tiền, T điều khiển xe mô tô biển số 83P2-406.64 đến con hẻm kế bên “Thủy Long Cổ M1" gặp người nam thanh niên (không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể) mua 300.000 đồng ma túy heroin.
Sau khi mua được ma túy, T cất vào trong túi áo khoác mà T đang mặc trên người rồi điều khiển xe rước C đi về. Trên đường về, C hỏi T “mua bao nhiêu" thì T trả lời “ba trăm” rồi C nói với T là chưa có bơm kim tiêm. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường C và đường L, thành phố S, T dừng xe cho C đi vào tiệm thuốc tây mua hai bơm kim tiêm rồi cất vào túi quần đang mặc trên người và lên xe T chở về. Khi đi đến Khu vực trước nhà số A, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, T dừng xe định mua nước suối thì bị Tổ Công tác đặc biệt 123, Công an tỉnh S tiến hành kiểm tra. Lúc này, T lấy từ trong túi áo ra nhiều đoạn ống nhựa có chứa ma túy ném xuống nền gạch trong nhà số A. Qua kiểm tra, Công an phát hiện ba đoạn ống nhựa trong được hàn kín hai đầu, bên trong có chất rắn màu trăng và một đoạn ống nhựa trong được hàn kín hai đầu, bên trong có tỉnh thể rắn màu trắng. Tiếp tục kiểm tra phát hiện một đoạn ống nhựa trong được hàn kín hai đầu, bên trong có tỉnh thể rắn màu trắng trong túi áo khoác bên trái T đang mặc trên người. Vì nghi vấn số chất trên là ma túy nên bàn giao cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S phối hợp với Công an P1, thành phố S lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng gửi cơ quan chuyên môn giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 148/KLMT-KTHS, ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh S, kết luận:
- Gói 01: Mẫu tỉnh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0119 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1135 gam, loại Heroin.
- Gói 02: Mẫu tỉnh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0092 gam, loại Methamphetamine.
Tổng cộng gồm có: 0,0211 gam, loại Methamphetamine và 0,1135 gam, loại Heroin.
Tại bản Cáo trạng số 176/CT-VKSTPST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố các bị cáo Dương Hoàng T và Thạch Hoàng C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Hoàng T và Thạch Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Xử phạt bị cáo Dương Hoàng T và Thạch Hoàng C mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói niêm phong vụ số 148/2024 ngày 13 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S và 02 (hai) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 (một) áo khoác tay dài màu xám.
- Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng để đảm bảo thi hành án số tiền Việt Nam 400.000 đồng.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ, ngày 03 tháng 7 năm 2024, các bị cáo Dương Hoàng T và Thạch Hoàng C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,0211 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,1135 gam ma túy, loại Heroin tại khu vực trước nhà số A, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, nhằm mục đích để sử dụng của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, nên hành vi của bị cáo đã cấu
thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
[3] Đây là vụ án có hai bị cáo tham gia, nhưng giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó vai trò của bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê và cùng bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trước khi phạm tội, bị cáo Dương Hoàng T chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Thạch Hoàng C chưa có tiền sự nhưng có 01 tiền án, cụ thể như sau: Vào ngày 25/7/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/01/2019, đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo C là người dân tộc thiểu số (dân tộc Khmer) nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với vật chứng: 02 (hai) gói niêm phong vụ số 148/2024 ngày 13 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S; 02 (hai) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[5.2] Đối với vật chứng: 01 (một) áo khoác tay dài màu xám là tài sản của bị cáo T, không liên quan vụ án nhưng do bị cáo T yêu cầu không nhận lại, tài sản không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5.3] Đối với vật chứng: tiền Việt Nam 400.000 đồng không liên quan vụ án, là tài sản của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo T.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[7] Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho các bị cáo, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa mời làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Hoàng T.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với Thạch Hoàng C.
Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Hoàng T và Thạch Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Dương Hoàng T 01 (một) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2024.
- Xử phạt bị cáo Thạch Hoàng C 01 (một) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2024.
-
Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) gói niêm phong vụ số 148/2024 ngày 13 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S và 02 (hai) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 (một) áo khoác tay dài màu xám.
- - Trả lại cho bị cáo T: tiền Việt Nam 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T và bị cáo C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Báo cho các bị cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
5
Bản án số 187/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 187/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
