|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2024/DS-ST
Ngày 07-6-2024
V/v tranh chấp đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hân
- Bà Nguyễn Thị Xuân Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:
Bà Trần Yến Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-DS, ngày 02 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2024/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 294/2024/QĐST-DS, ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn L, sinh năm 1953
Cư trú: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Văn P, sinh năm 1956
Cư trú: Số A, T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết nguyên đơn ông Võ Văn L trình bày:
Do quen biết, ngày 05/10/2014 ông L có cho ông Phan Văn P vay số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), khi vay ông P chủ động đưa ra mức lãi suất sẽ trả cho ông L là 05%/tháng, vay không thời hạn khi nào ông L cần và yêu cầu thì ông P sẽ trả; khi vay các bên có lập Giấy vay tiền vào ngày 05/4/2014, ông P có ký tên xác nhận nợ với ông L. Ngay sau khi ký giấy vay tiền thì ông L đã giao đủ số tiền vay 50.000.000 đồng cho ông P theo thỏa thuận.
Quá trình vay, ông P đã không thực hiện đúng nội dung thỏa thuận, không trả lãi như đã hứa mà chỉ trả được 01-02 lần và mỗi lần cũng không như mức lãi suất thỏa thuận, chỉ trả cho có; vì là chỗ quen biết nên ông L cứ để kéo dài cho đến khoảng năm 2016 thì ông có yêu cầu ông P phải trả lại vốn nhưng ông P chỉ hứa hẹn mà không thực hiện cho đến nay. Vì vậy, ông L khởi kiện yêu cầu ông P phải có trách nhiệm trả cho ông L số tiền đã vay và còn nợ là 50.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Đối với số tiền lãi đã nhận thì ông cũng không nhớ rõ vì đã quá lâu và khi trả các bên cũng không lập biên nhận, hơn nữa ông P chỉ trả nhỏ giọt chứ không trả đúng theo mức lãi suất thỏa thuận, nên đối với số tiền lãi đã nhận thì ông L không có ý kiến, không tranh chấp vì hiện ông cũng chỉ yêu cầu trả vốn và không yêu cầu lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn ông Phan Văn P đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L. Tại phiên tòa, ông P tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L, buộc ông Phan Văn P có trách nhiệm trả cho ông L số tiền 50.000.000 đồng, không yêu cầu về lãi nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Võ Văn L khởi kiện ông Phan Văn P về tranh chấp đòi tài sản. Ông P cư trú tại số A, T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung: Ông Võ Văn L khởi kiện yêu cầu ông Phan Văn P có trách nhiệm trả cho ông L số tiền 50.000.000 đồng, không tranh chấp về lãi. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là bản chính giấy vay tiền ngày 05/10/2014.
Quá trình giải quyết, mặc dù được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông Phan Văn P đều vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do ông L cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Đồng thời, sau khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì Tòa án đã thông báo về kết quả cho ông P biết theo quy định, nhưng ông P vẫn không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, căn cứ vào bản chính giấy vay tiền ngày 05/10/2014 để xác định ông P có vay của ông L 50.000.000 đồng, mặc dù khi vay các bên thỏa thuận khi nào ông L yêu cầu thì ông P sẽ trả số tiền nợ cho ông L, nhưng đến khi ông L yêu cầu thì ông P không thực hiện. Thấy rằng, sau khi nhận 50.000.000 đồng từ ông L thì ông P đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đã ký, nên việc ông L khởi kiện yêu cầu ông P phải trả số tiền 50.000.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.
Đối với trình bày của ông L về việc có nhận lãi do ông P trả được 01- 02 lần, nhưng không xác định được số tiền lãi đã trả và thời gian trả cụ thể nên không có đủ căn cứ để xem xét; hơn nữa ông L và ông P đều không có ý kiến, không tranh chấp về lãi nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[3] Về án phí: Ông Phan Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy theo quy định. Ông Võ Văn L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L đối với ông Phan Văn P.
Buộc ông Phan Văn P có trách nhiệm trả cho ông Võ Văn L số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- [2] Về án phí: Ông Phan Văn P phải chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Võ Văn L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- [3] Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Chiền |
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
|
Hà Thị Chiền |
Bản án số 187/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 187/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
