|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04/12/2023
Tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Bà Hà Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 497/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2023/QĐST-HGNĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh N, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Tổ A, ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- - Bị đơn: Anh Đặng Xuân N1, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Tổ A, ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Thanh N trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2007, chị Lê Thị Thanh N và Đặng Xuân N1 tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, nhưng thời gian sau mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 82, ngày 31/7/2012. Khi cưới nhau xong, vợ chồng anh về sinh sống tại tổ A, ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến đầu năm 2020 giữa chị và anh N1 phát sinh mâu thuẫn, do không có tiếng nói chung, nên từ đó chị và N1 đã ly thân với nhau. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Xuân N1.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh N1 có một người hai con chung tên Đặng Xuân D, sinh ngày 31/3/2008 và Đặng Ngọc T, sinh ngày 27/10/2010. Hiện nay, hai con do chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giao dục hai con đến tuổi trưởng thành và chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị N xác nhận quá trình chung sống chị và anh N không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân N2:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho người nhận là ông Đặng Xuân C là cha ruột của anh Đặng Xuân N1 người trực tiếp ký nhận và cam kết giao lại, cũng như truyền tải thông tin đến anh N1, nhưng anh N1 đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh N1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Lê Thị Thanh N yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Đặng Xuân N1. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Đặng Xuân N1 có nơi cư trú tại tổ A, ấp S, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đặng Xuân N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Lê Thị Thanh N và Đặng Xuân N1 tự tìm hiểu và yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, nhưng thời gian sau mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 82, ngày 31/7/2012. Như vậy, hôn nhân giữa chị Lê Thị Thanh N và anh Đặng Xuân N1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị N về việc xin ly hôn với anh N1 thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị N và anh N1 có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị N cho rằng do chị và anh N bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nên từ đó chị và N1 đã ly thân với nhau, giữa chị và anh N1 không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị N đoàn tụ gia đình, nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn với anh N1. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N1 nhiều lần, nhưng anh N1 vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh N1 cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N.
Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh N1 đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị N yêu cầu được ly hôn với anh N1 là có cơ sở.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị Lê Thị Thanh N được ly hôn với anh Đặng Xuân N1.
[3.2] Về quan hệ con chung: Chị N và anh N1 trong quá trình chung sống có hai con chung tên Đặng Xuân D, sinh ngày 31/3/2008 và Đặng Ngọc T, sinh ngày 27/10/2010. Hiện nay, cháu D và cháu T đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con đến tuổi trưởng thành và chị N không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai, cháu D trình bày cha mẹ ly hôn, thì cháu muốn ở với cha để cha nuôi dưỡng. Tuy nhiên, từ khi chị N và anh N1 mâu thuẫn, không còn quan tâm đến nhau và ly thân, thì chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D và cháu T, hiện hai cháu vẫn phát triển bình thường. Đồng thời, tránh tình trạng chia rẽ anh em, mỗi người ở mỗi nơi, nên cần thiết giao cháu D, cháu T cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị N xác nhận quá trình chung sống chị và anh N1 không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Lê Thị Thanh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh N được ly hôn với anh Đặng Xuân N1.
- Về quan hệ con chung: Giao hai cháu Đặng Xuân D, sinh ngày 31/3/2008 và Đặng Ngọc T, sinh ngày 27/10/2010 cho chị Lê Thị Thanh N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xét.
- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Lê Thị Thanh N nuôi con; anh Đặng Xuân N1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Thanh N xác nhận quá trình chung sống chị và anh Đặng Xuân N1 không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Thanh N phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000251 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Thị Thanh N không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 187/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 187/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thanh Ng kiện Đặng Xuân N
