Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 187/2024/HS-PT

Ngày: 05-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ;

Ông Nguyễn Ngọc Thông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 70/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo :

Đặng Ngọc T, sinh năm 2003; nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện nay: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc S, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Ngọc T: Luật sư Nguyễn Văn V, Văn phòng luật sư Nguyễn Văn V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt)

- Bị hại: Nguyễn Văn T1 (Đã chết);

Người đại diện hợp pháp của B hại Nguyễn Văn T1: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1998 (có mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Phúc D, sinh năm 2003 (có mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Cao Văn S1 (K), sinh năm 1999 (có mặt);
  2. Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 2004 (vắng mặt),
    Cùng địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
  3. Huỳnh Anh P (T2), sinh năm 1993 (vắng mặt);
    Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  4. Nguyễn Kim N1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
    Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Đoàn Văn Q1, sinh năm 1987 (có mặt);
    Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  6. Lê Thị N2, sinh năm 1984 (vắng mặt);
    Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  7. Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1976 (có mặt),
    Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 25/3/2022, Nguyễn Phúc D điều khiển xe mô tô biển số 66N1- 502.94 chở bị cáo Đặng Ngọc T mua 10 chai bia hơi (loại 1 lít) và thức ăn đến nhà Cao Văn S1 ở khóm E, thị trấn T, huyện T để tổ chức uống bia. Đến khoảng 22 giờ thì nghỉ uống, D đi ra trước dẫn xe dựng cặp mé đường trước cửa nhà và đốt thuốc hút; bị cáo T đi ra sau đến chỗ xe của D, dùng tay phải gạt người D ra phía sau giành điều khiển xe. Bị cáo T lên xe đề máy (T chưa có giấy phép lái xe theo quy định) rồi chở D ngồi phía sau chạy tốc độ nhanh về đến ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đụng vào ông Nguyễn Văn T1 đang đứng trong lề đường bên phải theo hướng xe mô tô của T chạy. Hậu quả làm ông T1 tử vong tại chỗ; T và Duy đa chấn thương trên cơ thể được đưa đến Trung tâm y tế huyện T điều trị.

- Theo biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra tai nạn là tuyến tỉnh lộ ĐT 855, gần trụ điện số 183, thuộc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đoạn đường thẳng được trải một lớp nhựa bằng phẳng, không có vạch kẻ tim đường, không chướng ngại vật che khuất tầm nhìn, mặt đường rộng 3,5m. Vùng va chạm giữa xe mô tô và ông Nguyễn Văn T1 đo trở ra lề phải 0,4m (Tất cả số liệu lấy lề bên phải theo hướng đi xe mô tô chạy làm chuẩn).

- Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 283/KL-KTHS ngày 11/4/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 bị đa chấn thương, trong đó chấn thương vùng đầu làm nứt, vỡ sọ phức tạp gây dập và xuất huyết não là nguyên nhân tử vong.

- Các Kết luận giám định số: 262, 263, 264/KL-KTHS ngày 04/4/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu máu thu của Nguyễn Văn T1 có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 156,1mg/100ml máu; Mẫu máu thu của Đặng Ngọc T có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 113,5mg/100ml máu; Mẫu máu thu của Nguyễn Phúc D có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 22,7mg/100ml máu.

- Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 xe mô tô biển số 66N1 - 502.94.

- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định, kết quả kiểm tra và tạm giữ đồ vật nêu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử.

Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng các điểm a, b, khoản 2 Điều 260, điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự,

Xử phạt Đặng Ngọc T: 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, bị cáo Đặng Ngọc T có đơn kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng bị cáo không phải là người điều kiển xe gây tai nạn mà người điều khiển xe là Nguyễn Phúc D.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Ngọc T với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng Nguyễn Phúc D mới là người điều khiển phương tiện gây ra tai nạn. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người liên quan, người làm chứng tại phiên tòa có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Đặng Ngọc T là người điều khiển phương tiện gây ra tai nạn nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Đặng Ngọc T giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu:

  • Bị cáo khẳng định không phải là người điều khiển xe gây tai nạn cho ông cho ông Nguyễn Văn T1 mà người điều khiển xe là Nguyễn Phúc D. Do bị cáo không biết điều khiển xe tay ga loại chìa khóa tự động của D.
  • Bản thân bị cáo bị tai nạn giao thông ngày hôm trước khi xảy ra vụ án, tay chân bị cáo bị trầy xước nhiều nơi không lái xe được. Ngày xảy ra vụ án D điện thoại rủ bị cáo đi nhậu nhưng bị cáo nói không điều khiển xe được nên D mới chạy đến để rước bị cáo đi, điều này có nhiều người biết và D cũng biết. Như vậy, bị cáo không thể là người điều khiện xe để gây tại nạn được. Còn những người làm chứng nói thấy bị cáo chạy xe và nghe bị cáo nói là người điều khiển xe là chưa khách quan.
  • Chứng cứ kết tội bị cáo chưa chắc chắn. Tại hiện trường mọi chứng cứ điều mang tính suy đoán chứ không ai trực tiếp thấy bị cáo điều khiển xe gây tai nạn. Bị cáo có yêu cầu trích xuất camera gần khu vực gây tại nạn và thực hiện giám định dấu vân tay trên tay cầm xe nhưng cơ quan điều tra bỏ qua không xem xét.

Từ các nhận định nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án về điều tra làm rõ để có căn cứ vững chắc xác định người gây tai nạn trong vụ án tránh oan sai cho người vô tội.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phúc D trình bày: Chiếc xe gây tai nạn là của anh nhưng khi đến nhà S1 nhậu xong ra về, anh dắt xe ra cửa chờ T về thì T đi ra gạt tay anh để điều khiển xe chạy về. Suốt đoạn đường đi không có dừng lại đến khi bị cáo tỉnh lại thì biết đã gây tai nạn giao thông. Bị cáo T nói anh điều khiển xe gây tai nạn là không có căn cứ.

- Đại diện hợp pháp bị hại tại phiên tòa trình bày: Về phần bồi thường dân sự thì thống theo án sơ thẩm không có yêu cầu gì thêm. Về phần hình sự đề nghị xét xử theo pháp luật.

- Về phần trách nhiệm dân sự theo án sơ thẩm đã tuyên thì bị cáo và bị hại đồng ý bồi thường theo án sơ thẩm đã tuyên nên ghi nhận sự tự thỏa thuận bồi thường của bị cáo T, anh D đối với đại diện bị hại.

Lời nói sau cùng: Bị cáo khẳng định từ lúc nhà của S1 về đến lúc gây tại nạn xe không dừng lại nhưng bị cáo không phải là người điều khiển xe gây tai nạn. Muốn kết tội bị cáo thì phải có camera chứng minh bị cáo lái xe, đồng thời giám định dấu tay của bị cáo trên tay cầm lái xe thì bị cáo mới có tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo Đặng Ngọc T không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 22 giờ, ngày 25/3/2022, bị cáo T điều khiển xe mô tô, biển số: 66N1-502.94 tham gia giao thông, khi chạy trên tuyến tỉnh lộ ĐT 855, thuộc địa phận xã T, huyện T, bị cáo không có giấy phép lái xe, trong người lại có rượu chủ quan, thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn, không làm chủ tay lái, dẫn đến việc xe do bị cáo điều khiển đụng ông T1 đứng trong lề đường, làm ông T1 ngã xuống đường, bị chấn thương phần đầu, dẫn đến tử vong.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Đặng Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tham gia giao thông không có bằng lái xe đã có nồng độ cồn trong máu, điều khiển xe chủ quan không làm chủ được tay lái dẫn đến hậu quả làm ông Nguyễn Văn T1 tử vong tại hiện trường do chấn thương phần đầu, dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại a, b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng bị cáo không phải người trực tiếp điều khiển xe mà cho rằng Nguyễn Phúc D mới là người điều khiển xe gây tai nạn.

Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người liên quan, người làm chứng, biển bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

  • Cả bị cáo và người liên quan đều xác định từ nhà của anh S1 đến nơi gây tai nạn không có dừng lại để đổi tay lái cho nhau.
  • Chứng cứ tại nhà anh S1 xác định:
    • + Người làm chứng Cao Văn S1 khai: T, D đến nhà tôi uống bia, khi về D đứng dẫn xe lui từ từ ra lề đường và còn nói chuyện giỡn với nhau, tôi kêu” chạy từ từ thôi”, D đứng hút thuốc, rồi chuẩn bị lên xe, thì T đến đẩy tay D ra sau để T điều khiển xe, T lên cầm lái xe và nổ máy phóng xe thật nhanh ra khỏi nhà tôi. T và D đi đâu không biết.
    • Khi T, D ra về, anh đứng ở ngay cửa nhà, khoảng cách 7m, nên thấy rõ người điều khiển xe và xác định chính xác là T.
    • + Chị Nguyễn Thị Kim Q (vợ anh S1) trình bày: khoảng 20 giờ ngày 25/3/2022, chồng tôi cùng D, T nhậu tại nhà tôi, khi ra về thì thấy rõ chính là T người điều khiển chở D, vì lúc này xe đang ở vị trí dưới lòng đường, cặp vĩa hè, đầu xe hướng về chợ T4, T cầm lái khởi động xe và D lên xe ngồi phía sau. Thời điểm đó chị đứng ngay cửa nhà, cách T, D 7 m nên thấy rõ.
  • Chứng cứ tại hiện trường xác định:
    • + Anh Trần Minh H, là Công an viên phụ trách ấp C xác nhận: khoảng 22 giờ ngày 25/3/2022, khi được phân công đến hiện trường tai nạn, đưa mọi người đi cấp cứu. Khi ra bệnh viện thì ông T1 đã tử vong, còn 02 người nam đã có rượu nằm phòng cấp cứu, tôi đến hỏi ai điều khiển xe mô tô thì có một người nam ốm (là bị cáo T) nói là em, còn người nam hơi mập ngồi sau bất tỉnh.
    • + Anh Huỳnh Thanh P1, Nguyễn Kim N1 trình bày: khoảng 22 giờ ngày 25/3/2022, khi đi về thấy vụ tai nạn, đến hiện trường thì thấy gần xe mô tô có 01 thanh niên dáng người ốm bị thương nhẹ (sau này khi làm việc được biết người đó là T). Cách người T khoảng 4m thì thấy một thanh niên dáng người mập lùn (sau này khi làm việc thì được biết tên là D) nằm bất tỉnh, ông T1 người hàng xóm bị thương tích nặng nằm cách lề đường bên phải là 4m. Tôi không chứng kiến trực tiếp nhưng tôi ý thức được rằng người điều khiển xe lúc nào cũng luôn gần xe khi xảy ra tai nạn.
    • + Anh Đoàn Văn Q1: khoảng 22 giờ ngày 25/3/2022, đi uống cà phê về thấy vụ tai nạn gần trước cửa nhà có người thanh niên mập lùn (sau biết tên D con ông T3), cách D khoảng 4m có người thanh niên ốm cao (sau biết tên T) đang ngồi cặp lề đường, đang khom khom tìm gì đó, tình trạng sức khỏe còn tỉnh nói chuyện được, cách T 4m xuống mé lộ có xe mô tô đang sáng đèn, máy vẫn nổ. Sau đó anh chở người đi cấp cứu, tại bênh viện thấy anh H, nên có đứng nói chuyện 01 hồi rồi về.
    • + Ông Nguyễn Thanh T3: khi đến hiện trường thì T ngồi cặp mé lề đường, D thì nằm cách Thanh khoản 2m, tôi hỏi thằng nào chạy xe thì T trả lời do T điều khiển. Rồi ông lấy xe kếu Quí ngồi phía sau chỗ D (con của ông) đến Bệnh viện, rồi kêu Q1 lấy xe quay lại chở người bị tai nạn đi cấp cứu tiếp. Khi đến cấp cứu thì tôi tiếp tục hỏi: Thằng nào chạy dữ vậy T” lúc này T vẫn bình tỉnh trả lời với tôi: con chạy.

- Kết quả khám nghiệm hiện trường phù hợp với lời khai của những người làm chứng đã khai.

- Lời khai của người liên quan Nguyễn Phúc D và đại diện hợp pháp bị hại là có căn cứ và phù hợp với lời khai những người làm chứng và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Việc bị cáo khai nạị cần phải trích xuất camera và thực hiện giám định dấu vân tay trong khi vụ án đã xảy ra rất lâu là không có căn cứ để xem xét. Trong khi bị cáo không có chứng cứ trực tiếp nào xác định bị cáo không phải là người điều khiển xe.

Từ các chứng cứ và nhận định trên đủ căn cứ xác định bị cáo là người điều khiển xe gây tai nạn cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan bị cáo Đặng Ngọc T, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về phần trách nhiệm dân sự theo án sơ thẩm đã tuyên thì bị cáo và bị hại đồng ý bồi thường theo án sơ thẩm đã tuyên nên ghi nhận sự tự thỏa thuận bồi thường của bị cáo T, anh D đối với bị hại.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Xét lời bào của Luật sư chưa phù hợp với nhận định ở mục [3] nên không chấp nhận.

[7] Do kháng cáo của bị cáo Đặng Ngọc T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

[8] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Đặng Ngọc T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
  2. Căn cứ các điểm a, b, khoản 2 Điều 260, điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt Đặng Ngọc T: 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 591, 601 Bộ luật dân sự.
    • + Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.
    • + Đặng Ngọc T và Nguyễn Phúc D có trách nhiệm liên đới bồi thường cho Trần Thị Bích P2, Nguyễn Thị K1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị C1, số tiền 80.670.000 đồng gồm các chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần (Đặng Ngọc T và Nguyễn Phúc D, mỗi người thực hiện phần nghĩa vụ của mình là 50%).
    • + Về lãi suất chậm trả: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo Đặng Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tam Nông (02 bản);
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Tam Nông;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Tam Nông;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2024/HS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 187/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger