|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 187/2025/HS-ST Ngày 25 tháng 6 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Khang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử công khai theo theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Đức T; Sinh năm 1959; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: Nhà số 28 đường NK, phường T, quận BT, Thành phố H; Chỗ ở: Nhà số 28 đường NK, phường T, quận BT, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Họ tên cha: Lê Ngọc K, sinh năm (không rõ); Họ tên mẹ Trần Thị T1, sinh năm (không rõ); Bị cáo có 04 anh, chị, em. Bị cáo là người thứ 04 trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1961; con: có 02 con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 13/5/2025
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng: Không có
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức T (Sinh năm 1959) sinh sống tại nhà số 28 đường NK, Phường T, quận BT, Thành phố H. Do không có việc làm nên từ năm 2017 đến nay, T mua bán số đề cho khách tại nhà. Hình thức giao dịch mua bán số đề giữa T và khách mua là khi khách có nhu cầu mua số đề sẽ đến nhà T để mua số đề, khách sẽ đọc số đề và số tiền mua mỗi con số để T ghi vào phơi để, giấy để ghi số đề là giấy than, khi T ghi phơi thì T sẽ xé tờ giấy bản chính giao cho khách giữ và giữ lại phơi phụ hoặc khách chơi sẽ ghi sẵn số đề và tiền mua đưa trực tiếp cho T và tính tiền. Nếu khách không đến được nhà T mua số đề thì sẽ nhắn tin cho T để mua, sau đó T tính tổng tiền bảo lại cho khách qua tin nhắn thì khách sẽ chuyển khoản cho T. Khi gần đến giờ xổ số thì T sẽ chuyển cho đầu trên qua tin nhắn zalo, tiền thì T sẽ chuyển khoản cho đầu trên hoặc sẽ có người đến nhà T để nhận tiền. Cách tính tiền sẽ được cộng tổng theo từng phơi và trừ 20% tiền cò, khách chỉ đưa cho T 80% tổng số tiền.
T được người tên là B và K (không rõ lai lịch) thuê T mua bán số đề. B là người thuê T nhận phơi của những người chơi từ 04 con số trở lên (tức là mua từ 04 số để trở lên trong 01 lần). Còn K là người thuê T nhận phơi của những người chơi từ 03 số để trở xuống (tức là mua từ 03 số để trở xuống). Số tiền T nhận được là 4%/ tổng số tiền mua số đề của khách trong ngày sau khi chốt số và nhận được ngay sau khi chốt số cuối cùng trong ngày.
Cách thức giao nhận phơi của T với B và K là đối với đài miền Nam, đến khoảng 15 giờ thì T sẽ chốt phơi bằng cách soạn tin nhắn của tất cả các số đề đã bán. Đối với các phơi đề có từ 04 con số trở lên thì T sẽ soạn tin nhắn và gửi qua zalo hoặc tin nhắn điện thoại cho B (số điện thoại lưu tên BE1), khi chốt là đã nhận phơi thì B sẽ copy tin nhắn này của T và gửi chuyển tiếp lại cho T để xác nhận. Đối với các phơi đề có từ 03 con số trở xuống thì T sẽ soạn tin nhắn và gửi qua zalo cho K (lưu tên danh bạ số điện thoại là K1), khi K nhận được phơi thì sẽ nhắn tin lại cho T là “Ok” để xác nhận. Việc giao dịch tiền thì T sẽ chuyển khoản cho B và K (không nhớ được số tài khoản) hoặc sẽ có 01 người nam khoảng 40 tuổi (T không biết tên và nhân thân lai lịch) sẽ đến trực tiếp nhà T để nhận tiền, việc giao nhận tiền sẽ được chốt sổ sau khi kỳ xổ số cuối cùng được xổ (miền Bắc), số tiền sau khi chốt số trừ qua cộng vào tiền khách trúng thưởng, nếu dư thì T chuyển khoản cho B và K còn nếu thiếu và bù vào thì B và K chuyển khoản cho T, số tiền T được hưởng sẽ được chuyển khoản cùng với khi chốt số. Sau đó, từ 15 giờ đến 16 giờ, nếu có khách tiếp tục đến mua thì T sẽ chuyển tiếp phơi cho B và K.
Vào ngày 13/05/2025, T đã bán số đề cho Lưu Vỹ H số tiền 85.000 đồng, sau khi trừ cò Hùng phải trả cho T 68.000 đồng, khi Hùng nhận phơi đề và trả tiền cho T xong thì bị Cơ quan công an bắt quả tang. Kiểm tra phơi đề thì ngày 13/5/2025, Lê Đức T còn bán số đề cho Phạm Thị KL, Nguyễn Cựu Đ, Lê Anh Đ và 17 khách khác nhau được xác định mua bán số đề bằng hình thức đến mua trực tiếp tại nhà đã trả tiền, mua qua tin nhắn zalo, tin nhắn điện thoại, và số điện thoại di động. Tất cả các con bạc đều mua số đề của đài miền Nam. Tổng số tiền T đã bán số đề ngày 13/5/2025 là 7.304.000 đồng, số tiền sau khi trừ cò 20% khách phải trả cho T là 5.844.200 đồng. Sau khi tiếp nhận số đề từ các con bạc đến đánh Lê Đức T đã chuyển tiếp các phơi đề mà người mua đề cho B và K thông qua tin nhắn điện thoại và tin nhắn zalo. B và K đã nhận được tin nhắn và xác nhận.
Ngoài ra, trong ngày 13/5/2025 sau khi T gửi phơi đề cho B và K thì T có nhắn tin qua zalo và tin nhắn điện thoại mua thêm các con số đề sau:
Mua thêm của B các con số đề như sau: Ba đài Vũng Tàu - Bến Tre – Bạc Liêu bao lô số 72 số tiền 540.000 đồng, bao lô số 89 số tiền 540.000 đồng, đầu đuôi số 72 số tiền 60.000 đồng, đầu đuôi số 89 số tiền 60.000 đồng; hai đài Bến Tre - Bạc Liêu đá số 72 – 89 số tiền 360.000 đồng; hai đài Vũng Tàu – Bạc Liêu đá chéo 72 – 89 số tiền 360.000 đồng, tổng tiền 1.920.000 đồng, số tiền sau khi trừ cò 20% là 1.536.000 đồng.
Mua thêm của K các con số đề sau: Hai đài Vũng Tàu - Bến Tre đá số 27 – 89 số tiền 144.000 đồng, đá số 72 – 90 số tiền 144.000 đồng; một đài Bến Tre đá 72 – 83 số tiền 180.000 đồng; một đài Vũng Tàu đá số 12-59-89-72 số tiền 216.000 đồng, tổng tiền 684.000 đồng, số tiền sau khi trừ cò 20% là 547.200 đồng. Tổng số tiền T mua của B và K ngày 13/5/2025 là 2.604.000 đồng. Ngày 13/5/2025, T đã chuyển phơi đề trong ngày cho K và B qua zalo và tin nhắn điện thoại, tiền bán phơi đề thì T chưa chuyển do chưa chốt số cuối ngày.
+ Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 2 màu xám, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J5 Prime màu xám, 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen (là điện thoại T sử dụng để mua bán số đề).
- - 01 máy tính Casio; 01 bút bi màu xanh (T sử dụng để mua bán số đề).
- - Tiền mặt 29.000.000 đồng. Lê Đức T khai nhận đây là số tiền có được từ việc mua bán số đề ngày 13/5/2025 và một phần tiền bị cáo có được từ việc đánh bạc mua bán số đề trước đó.
- - 01 tập học sinh ghi kết quả sổ xố hàng ngày.
- - 01 tờ phơi đề của Lê Đức T.
- - 01 tờ phơi đề của Lưu Vỹ H.
- + Về trách nhiệm dân sự: Không có
Tại bản quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ - VKSBTh ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Đánh bạc”, được quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Đức T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Bị cáo bản thân không có việc làm ổn định, chỉ vì thiếu suy nghĩ, nên mới nhất thời phạm tội, bị cáo biết việc làm của mình là sai trái, rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi bị cáo được nói lời nói sau cùng.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Đức T mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm. Bị cáo Lê Đức T là người cao tuổi, ngoài ra bị cáo không có việc làm ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo, về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức T khai nhận đã thực hiện các hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 13/5/2025 tại số nhà 28 đường NK, phường T, quận BT, Thành phố H. Công an phát hiện và bắt quả tang Lê Đức T có hành vi bán số đề cho các đối tượng gồm Phạm Thị KL, Nguyễn Cựu Đ, Lê Anh Đ, Lưu Hùng V và 17 khách chưa rõ lai lịch, tất cả số đề khách mua đều là đài miền Nam, với số tiền Lê Đức T đã ghi bán đề cho khách là 7.304.000 đồng, sau khi trừ tiền cò 20% khách phải trả 5.844.200 đồng. Ngoài ra bản thân bị cáo Lê Đức T tự mua phơi đề của đối tượng tên B và K thông qua tin nhắn zalo và tin nhắn điện thoại của các đài Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu với số tiền là 2.604.000 đồng. Qua giải phơi đề có xác nhận của bị cáo thì tổng số tiền Lê Đức T mua bán số đề trong ngày 13/5/2025 là 9.908.000 đồng.
[4] Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Đức T đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Bị cáo Lê Đức T là người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do muốn có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân, bị cáo Lê Đức T đã tham gia trực tiếp ghi số đề ăn thua bằng tiền với các con bạc khác nhau vào ngày 13/5/2025 tại căn nhà số 28 đường NK phường T, quận BT, Thành phố H, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, việc bị phát hiện và bắt quả tang nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, tội phạm đã hoàn thành.
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hại cho xã hội, vì đánh bạc là một trong những tệ nạn gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự xã hội, đây chính là nguyên nhân sâu xa phát sinh một số loại tội phạm khác. Việc chơi bạc còn tạo cho con người có thói quen trông đợi vào sự may rủi trong cuộc sống, lười biếng lao động, không chú tâm làm ăn lương thiện, là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình. Những người có hành vi vi phạm tùy tính chất mức độ sẽ bị xử lý theo pháp luật; bị cáo nhận thức được điều này nhưng do tính tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần có mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân, lai lịch của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[7] Về tình tiết tăng trách nhiệm hình sự: Không có
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhân thân của bị cáo tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiên nay bị cáo đã lớn tuổi, không có việc làm ổn định, có kinh tế khó khăn sống phụ thuộc vào con. Hiện nay bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Bị cáo phạm tôi ít nghiêm trọng. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nêu trên kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao về chính quyền địa phương, giám sát giáo dục là phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật, cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[9] Đối với các đối tượng tên gồm B, K và một số đối tượng tên ND, KĐ, L, KH, Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[10] Ở dạng tội phạm này ngoài hình phạt chính là phạt tù ra thì bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, nên nghĩ không phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo là phù hợp.
[11] Bị cáo Lê Đức T khai nhận từ ngày tổ chức ghi số đề đến ngày bị bắt ngày 13/5/2025 bị cáo hưởng lợi bất chính tổng số tiền khoảng 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức T tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên để sung vào công quỹ Nhà nước, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.
[12] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 2 màu xám, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J5 Prime màu xám, 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen (là điện thoại T sử dụng để mua bán số đề). Là vật chứng của vụ án, bị cáo dùng các điện thoại trên để nhắn tin liên lạc vào mục đích phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- - 01 máy tính Casio; 01 bút bi màu xanh (T sử dụng để mua bán số đề). Đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- - Tiền mặt 29.000.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo có được từ việc mua bán số đề ngày 13/5/2025 và số tiền bị cáo khai có được từ việc đánh bạc mua bán số đề trước đó, bị cáo đồng ý tự nguyện nộp lại để sung công quỹ Nhà nước.
- - 01 tập học sinh ghi kết quả sổ xố hàng ngày. Đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên lưu theo hồ sơ vụ án.
- - 01 tờ phơi đề của Lê Đức T. Đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên lưu theo hồ sơ vụ án.
- - 01 tờ phơi đề của Lưu Vỹ H. Đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên lưu theo hồ sơ vụ án.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 327, khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Lê Đức T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 25/6/2025.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lê Đức T do bị cáo có thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Đức T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ghi nhận sự tự nguyên của bị cáo Lê Đức T đồng ý nộp lại số tiền thu lợi bất chính 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
+ Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 2 màu xám, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy J5 Prime màu xám, 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đen.
- - Số tiền 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng)
+ Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- - 01 máy tính Casio; 01 bút bi màu xanh.
+ Tuyên lưu theo hồ sơ vụ án
- - 01 tập học sinh ghi kết quả sổ xố hàng ngày.
- - 01 tờ phơi đề của Lê Đức T.
- - 01 tờ phơi đề của Lưu Vỹ H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 16 giờ 00 phút, ngày 12/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và giấy nộp tiền vào kho bạc Nhà nước ngày 12/6/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực II).
3. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |
Bản án số 187/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 187/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức T - Đánh bạc
