Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 187/2025/HS-ST

Ngày 12 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Thẩm phán: ông Hồ Ngọc Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh, ông Võ Duy Bảo, bà Hoàng Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 145/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10/5/1969 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Ngõ C, đường Y, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (nay là phường T, thành phố Hà Nội); Trình độ học vấn: 4/10; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Tô Quang C1 (cha dượng là Trần Văn K) và bà Lưu Thị C2; Chồng Trần Văn A (tên gọi khác Trần Hữu A1 - đã chết) và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2025 đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo C: ông Nguyễn Văn N – Luật sư thuộc Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.

2. Họ và tên: Đậu Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/01/1986 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An); Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Đậu Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến nay. Có mặt.

1

3. Họ và tên: Nguyễn Thành S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/9/1989 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An); Nơi ở hiện tại: Xóm K, phường V (tức xã N, thành phố V cũ), tỉnh Nghệ An. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Thành C3 và bà Nguyễn Thị K1; Vợ: Hoàng Thị H (sinh năm 1993) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 31/12/2024, tại khu vực xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là phường V, tỉnh Nghệ An), tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang Đậu Văn T đang tàng trữ trong túi quần bên phải và túi áo khoác trong bên trái 24 đoạn ống hút bằng nhựa nhỏ, ngắn, có đặc điểm giống nhau, bên trong chứa chất cục bột màu trắng được bịt kín hai đầu (nghi là ma túy). Tổ công tác đã tịch thu tang vật cùng với 02 chiếc điện thoại của T và đưa đối tượng về trụ sở Công an phường H lập biên bản.

Tại Công an phường H, T khai nhận:

Khoảng đầu tháng 12/2024, T đi ra Hà Nội chơi, được biết Trần Thị C (thường gọi là Đ) bán ma tuý nên T và Nguyễn Thành S (là bạn nghiện cùng thuê phòng trọ) bàn bạc với nhau mua Heroine về sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 08 giờ ngày 29/12/2024, T gọi điện liên lạc với D hỏi mua 01 cây Heroin thì C đồng ý bán giá 45.000.000 đồng và yêu cầu T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng T3 số [...] mang tên Phạm Tiến D. Vào lúc 12 giờ 08 phút ngày 30/12/2024, T sử dụng tài khoản ngân hàng M số 95679111 của mình chuyển số tiền 45.000.000 đồng vào tài khoản C cung cấp rồi cùng S bắt taxi ra Hà Nội, liên hệ với đối tượng tên N (không rõ danh tính) gặp C để nhận ma túy. Chanh đưa T, S vào phòng trọ cản và giao ma túy. Mua được ma túy, cả hai mang về phòng trọ tại ngõ B, đường T, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An cản và chia ma túy Heroine ra nhiều gói nhỏ bỏ vào ống hút nhựa để bán. Ngày 31/12/2024, khi T đưa 24 ống hút nhựa chứa ma túy Heroine ra khu vực bến xe B để bán thì bị phát hiện, bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của T và S, cơ quan điều tra còn thu giữ thêm 02 bao nilong màu trắng bên trong chứa nhiều ống hút nhựa màu trắng được bịt kín 02 đầu có chứa chất cục bột màu trắng; 01 bao nilong bên trong chứa 03 gói giấy bạc chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 của S; 01 cân điện tử màu xám – trắng có chữ SAILAZA và đưa đối tượng S về trụ sở Công an làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 78/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 06/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:

“- Các mẫu chất cục bột màu trắng (ký hiệu từ M1, M2) thu giữ của Đậu Văn T gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

- Số chất cục bột màu trắng thu giữ của Đậu Văn T có tổng khối lượng 1,725 gam (một phẩy bảy trăm hai mươi lăm gam)”.

2

Tại Bản kết luận giám định số 79/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 06/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:

“- Các mẫu chất cục bột màu trắng (ký hiệu lần lượt từ M1 đến M4) thu giữ của Đậu Văn T gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

- Số chất cục bột màu trắng thu giữ của Đậu Văn T có tổng khối lượng 20,735 gam (hai mươi phẩy bảy trăm ba mươi lăm gam)”.

Căn cứ lời khai của T, ngày 01/01/2025, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị C tại ngõ C, đường Y, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và thu giữ dưới đệm đặt trên gác xép 02 bao nilong màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng + 01 bao nilong chứa nhiều viên nén hình tròn màu hồng có in chữ WY; tại khu vực bàn thờ 01 bao nilong màu trắng đựng chất cục bột mà trắng; trong túi áo khoác bên phải treo trên gác xép 01 bao nilong màu trắng xanh có dòng chữ “5D Mask Omi” nên trong có 01 bao nilong màu xanh và 01 bao nilong màu hồng đựng nhiều viên nén màu hồng hình tròn có in chữ WY, 02 bao nilong màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh và 01 cuốn Hộ chiếu của C. Tại cơ quan điều tra, C khai nhận: khi T đặt mua ma túy thì C liên hệ mua của V (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 cây Heroin giá 32.000.000 đồng, 01 lạng ma tuý đá và 06 gói Hồng phiến giá 51.000.000 đồng với mục đích vừa để sử dụng vừa bán kiếm lời. V cho C số tài khoản ngân hàng T3 số [...] mang tên Phạm Tiến D để chuyển tiền.

Chanh báo giá 45.000.000 đồng/01 cây H1 và nói T chuyển tiền vào tài khoản V đã gửi. Chanh báo cho V đã chuyển tiền và xin nợ 38.000.000 đồng khi nào bán được ma túy sẽ trả sau. V đồng ý và thống nhất giao ma tuý ở khu vực hồ Đ thuộc quận H, thành phố Hà Nội. Nhận ma tuý xong, C về cất tại nhà trọ ở số C, đường Y, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội và chia cây Heroin thành 02 gói, gói lớn giao cho T và S; gói nhỏ để lại bán kiếm lời và bị bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 85/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 07/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:

“- Các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, M5, M6, M7, M8, M9 thu giữ của Trần Thị C gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

3

- Số viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều in chữ WY thu giữ của Trần Thị C có tổng khối lượng là 41,447 gam (bốn mươi mốt phẩy bốn trăm bốn mươi bảy gam).

- Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Thị C có tổng khối lượng 110,741 gam (một trăm mười phẩy bảy trăm bốn mươi mốt gam).

- Mẫu vật ký hiệu M4 thu giữ của Trần Thị C gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

- Chất cục bột màu trắng thu giữ của Trần Thị C có khối lượng là 8,296 gam (tám phẩy hai trăm chín mươi sáu gam)”.

Ngày 10/9/2025 cơ quan điều tra đã chuyển số ma túy còn lại và các vật chứng khác đã thu giữ sang bảo quản tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An chờ xét xử.

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKS-P1 ngày 08/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2025; truy tố bị cáo Nguyễn Thành S và bị cáo Đậu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo T có bố đẻ là ông Đậu Văn T1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng ba, có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T2 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, có giấy chứng nhận người được hưởng chính sách như thương binh. Bị cáo S là người khuyết tật (cụt ½ cánh tay trái) nhưng chưa được hưởng trợ cấp xã hội, xin được miễn án phí. Các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị:

Áp dụng điểm h khoản 4 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C mức án 20 năm tù.

Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 10 năm đến 11 năm tù; xử phạt bị cáo S mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

4

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý vật chứng là tiêu hủy số ma tuý còn lại. Sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi note11, vỏ màu đen, máy có Imell: 865504063504869; số Imel2: 865504063504877 thu giữ của Đậu Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu TecnoBG6 vỏ màu đen, số IMEI 1: 358118770010823, số IMEI 2:358118770010831 thu giữ của Đậu Văn T; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu “Samsung Galaxy Note 8", máy có số IMEID 1: 352008090729523, số IMEID 2: 352009090729521 thu giữ của Nguyễn Thành S; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh kiểu máy CPH2591, số IMEI 1: 866067062672631 thu giữ của Trần Thị C; 01 (một) cân điện tử màu xám có nắp màu trắng, trên nắp có dòng chữ “SAILAZA”, đã qua sử dụng, thu giữ của Đậu Văn T; trả lại cho bị cáo C 01 cuốn Hộ chiếu.

Bị cáo C và T phải chịu án phí theo luật định. Miễn án phí cho bị cáo S (người khuyết tật).

Người bào chữa cho bị cáo C đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự), lần đầu bị xét xử nên xin được xử phạt với mức án 20 năm tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

5

[2] Về nội dung:

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 30/12/2024 đến ngày 01/01/2025, tại nhà trọ thuộc ngõ C, đường Y, thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Trần Thị C đã có hành vi tàng trữ 30,756 gam ma túy Heroine và 152,188 gam ma túy Methamphetamine để bán kiếm lời. Trong ngày 30/12/2024, C đã bán cho Đậu Văn T và Nguyễn Thành S 22,46 gam ma túy Heroine trong tổng số ma túy đang tàng trữ với giá 45.000.000 đồng.

T và S đưa 22,46 gam ma túy Heroine mua được của C về phòng trọ ở số H, hẻm C, nghách G, ngõ B, đường T, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An chia ra bỏ vào nhiều ống hút nhựa nhỏ để bán. Ngày 31/12/2024, khi T mang 24 ống hút nhựa bên trong chứa ma túy ra khu vực bến xe B thuộc xóm A, xã N, thành phố V thì bị bắt quả tang.

Như vậy, hành vi của Trần Thị C đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2025). Hành vi của Đậu Văn T và Nguyễn Thành S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An để xác định về tội danh, hành vi và khung hình phạt đối với các bị cáo.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của C có tính chất và mức độ nguy hiểm đặc biệt lớn cho xã hội; hành vi của T và S có tính chất và mức độ nguy hiểm rất lớn cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về phòng chống ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Ma túy đã và đang trở thành hiểm hoạ lớn của nhân loại; trở thành vấn đề nhức nhối trong đời sống cộng đồng. Ma túy đã hủy hoại đời sống con người, làm suy thoái nòi giống, làm xói mòn các giá trị văn hóa gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ nên cần xem xét vai trò cụ thể của mỗi bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội.

Chanh là đầu mối liên hệ để mua và cung cấp nhiều loại ma túy với số lượng lớn (182,944g, thuộc khung hình phạt đến chung thân), bán lại cho những đối tượng bán lẻ và người nghiện ma túy để thu lợi bất chính lớn nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án.

T và S đều là người thực hành, làm mắt xích trung gian trong chuỗi cung ứng ma túy để đưa ma túy thâm nhập vào địa bàn tỉnh Nghệ An, làm cầu nối chuyển giao ma túy từ đối tượng bán sỉ đến các đối tượng sử dụng ma túy. Khối lượng ma túy 2 bị cáo mua bán ngang nhau nhưng T là người khởi xướng, vừa chi

6

trả tiền, vừa trực tiếp giao dịch mua – bán ma túy còn S thụ động thực hiện hành vi phạm tội dưới sự chỉ đạo của T, được T hứa hẹn bao nuôi khi tham gia bán lẻ ma túy cùng với T nên hành vi của T nguy hiểm hơn, cần nghiêm trị hơn so với S.

Do vậy, cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Tuy nhiên, cũng cần xét: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự); bị cáo T đã tự nguyện khai ra đồng phạm là S và C đồng thời có cha mẹ là người có công với cách mạng (điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự), bị cáo S là người bị khuyết tật (tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lần đầu phạm tội nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

- Số lượng 22,991gam ma túy đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự nên không xem xét; số ma tuý còn lại (157,953gam) là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 cân điện tử dùng để cân ma túy là công cụ hỗ trợ, không còn giá trị sử dụng, cần tiêu hủy.

- Các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo là công cụ liên lạc và chuyển tiền mua bán ma túy nên cần sung quỹ nhà nước.

- Cuốn Hộ chiếu thu giữ của C không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với số tiền 45.000.000 đồng T đã chuyển trả mua ma túy qua tài khoản của đối tượng Phạm Tiến D nhưng C chưa được hưởng lợi; cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vấn đề khác:

qua sao kê giao dịch tại các Ngân hàng đã xác định được việc T chuyển 45.000.000 đồng mua ma tuý đến tài khoản số [...] ngân hàng T3 mang tên Phạm Tiến D (sinh ngày 03/7/1976, CCCD: [...]; cư trú tại F Lô G Đền L, H, phường T, thành phố Hà Nội) theo hướng dẫn của Trần Thị C. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng D bỏ trốn. Tiến hành cho C nhận dạng qua ảnh thì C khai không quen biết và cũng không phải là người đã bán ma túy cho C. Kiểm tra sao kê tài khoản của D thì thấy, ngay sau khi nhận số

7

tiền từ T, D đã chuyển 40.000.000 đồng đến tài khoản số 0966793898 của Đào Hồ Đ1 (sinh năm 1976 trú tại số C hẻm B B, phường B, Hà Nội) nhưng Đ1 thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không triệu tập làm việc được nên chưa có căn cứ để xác minh số tiền và sự liên quan của Đ1, D đến hành vi phạm tội.

Về án phí: bị cáo C và T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo S là người khuyết tật (cụt ½ cánh tay trái), có đơn xin miễn án phí nên cần miễn án phí hình sự cho bị cáo S theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị C, Đậu Văn T, Nguyễn Thành S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thị C 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 02/01/2025.

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đậu Văn T 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 31/12/2024.

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 31/12/2024.

2. Về vật chứng:

áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Tiêu hủy các vật:

01 phong bì thư bưu điện đã được niêm phong đúng quy định, niêm phong còn nguyên, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, mặt trước có ghi Vật chứng thu giữ của Đậu Văn T (Khám xét) ngày 31/12/2024 tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Bên trong có 17,835 gam chất cục bột màu trắng, là ma túy Heroin và vỏ giấy niêm phong.

8

01 hộp các tông có kích thước (20x14x 6cm) được niêm phong theo đúng quy định, niêm phong còn nguyên, trên bề mặt có ghi vật chứng thu giữ của Trần Thị C. Bên trong 36,247 gam các viên nén hình tròn màu đỏ là ma túy Methamphetamine; 6,196 gam chất cục bột màu trắng là ma túy Heroin; 102,541 gam các chất tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine và vỏ niêm phong ban đầu.

01 phong bì thư bưu điện đã được niêm phong đúng quy định, niêm phong còn nguyên, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, mặt trước có ghi Vật chứng thu giữ của Đậu Văn T (quả tang) ngày 31/12/2024, tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Bên trong có 1,330 gam chất cục bột màu trắng, là ma túy Heroin và vỏ giấy niêm phong.

01 cân điện tử màu xám có nắp màu trắng, trên nắp có dòng chữ "SAILAZA", đã qua sử dụng, thu giữ của Đậu Văn T.

- Sung vào Ngân sách nhà nước các vật:

01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu đen. Máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Đậu Văn T. Tại thời điểm giao cho thi hành án tỉnh, máy không lên được nguồn nên không kiểm tra được số I.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Tecno, vỏ màu đen. Máy qua sử dụng cũ, thu giữ của Đậu Văn T. Tại thời điểm giao cho thi hành án tỉnh, máy không lên được nguồn nên không kiểm tra được số I.

01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy, màu ghi. Tình trạng đã qua sử dụng, màn hình và mặt sau bị nứt vỡ. Thu giữ của Nguyễn Thanh S1. Tại thời điểm giao cho thi hành án tỉnh, máy không lên được nguồn nên không kiểm tra được số I.

01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh. Máy qua sử dụng cũ, thu giữ của Trần Thị C. Tại thời điểm giao cho thi hành án tỉnh, máy không lên được nguồn nên không kiểm tra được số I.

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị C 01 Hộ chiếu số Q00141247 mang tên Trần Thị C.

(Các vật chứng đang được bảo quản tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2025).

- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Thị C, Đậu Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Nguyễn Thành S.

Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

9

Nơi nhận:

  • - Các Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an tỉnh Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Thể

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 187/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Chanh 20 năm tù, bc Tuấn 12 năm tù, bc Sỹ 07 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger