|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 187/2025/DS-PT
Ngày: 26-11-2025
V/v tranh chấp: Kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hà.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Kim Liên - Kiểm sát
viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2025/TLPT-DS ngày 20/10/2025 về tranh chấp “Kiện đòi tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 18/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2025/QĐ-PT ngày 03/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần T; địa chỉ trụ sở: Số nhà A, đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn Hiếu E; chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thiện P; chức vụ: Trưởng nhóm - Phòng tố tụng Công ty cổ phần T; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1962; địa chỉ: Ngõ A, đường H, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là Công ty cổ phần T do người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 20/01/2021, chi nhánh Công ty cổ phần T ký Hợp đồng thuê tài sản số 2001/2021-HĐTTS ĐMM-SMA-BGI với bà Nguyễn Thị Thu H về việc thuê toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 72, tại tổ C, khu C, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh (sau đây gọi tắt là Tài sản thuê). Thực hiện theo đúng Hợp đồng thuê tài sản số 2001, Công ty cổ phần T đã nhận bàn giao Tài sản thuê, đầu tư trang thiết bị vật chất vào tài sản thuê để hoạt động kinh doanh, gồm có: 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Điều hòa treo tường công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 16 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 tủ trung tâm; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 thang nhôm; 01 bộ báo trộm trung tâm và loa; 07 đầu B; 01 tủ điện tổng; 02 bộ lưu điện; 04 ắc quy; 10 bóng đèn bảng hiệu.
Do thay đổi nhu cầu, định hướng hoạt động, không còn nhu cầu thuê tài sản nữa nên ngày 12/6/2024, Công ty cổ phần T đã gửi đến bà Hà Công V số 11245/CV-TGDĐ-TL về việc thanh lý hợp đồng thuê trước hạn và bà H đã ký nhận Công văn này. Thời điểm chấm dứt hợp đồng là ngày 31/7/2024 và Công ty cổ phần T đã thanh toán tiền thuê cho bà H đến hết tháng 07/2024. Ngày 25/7/2024, bà H đến Tài sản thuê gây khó khăn, cản trở hoạt động của Công ty cổ phần T bằng hành vi cố tình khoá cửa hàng không cho nhân viên của Công ty cổ phần T vào làm việc. Ngày 30/7/2024, Công ty cổ phần T đã lập vi bằng hiện trạng cửa hàng bị khoá. Ngày 31/7/2024 là ngày kết thúc hợp đồng thuê, Công ty cổ phần T đã trả bà H Tài sản thuê nhưng bà H nhất quyết không trả lại cho Công ty cổ phần T các trang thiết bị đầu tư là 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Điều hòa treo tường công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 16 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 tủ trung tâm; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 thang nhôm; 01 bộ báo trộm trung tâm+loa; 07 đầu B; 01 tủ điện tổng; 02 bộ lưu điện; 04 ắc quy; 10 bóng đèn bảng hiệu. Toàn bộ các tài sản trang thiết bị này là tài sản Công ty bỏ tiền ra mua
để lắp đặt tại Tài sản thuê của bà H. Trong Hợp đồng không có quy định nào cho phép bà H được lấy những tài sản này của Công ty khi chấm dứt hợp hồng thuê.
Do vậy, Công ty cổ phần T yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H phải trả lại các tài sản: 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Điều hòa treo tường công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 16 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 tủ trung tâm; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 thang nhôm; 01 bộ báo trộm trung tâm+loa; 07 đầu B; 01 tủ điện tổng; 02 bộ lưu điện; 04 ắc quy; 10 bóng đèn bảng hiệu.
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H phải trả lại cho Công ty cổ phần T 4.045.161 đồng là tiền thuê của các ngày (từ ngày 25/7/2024 đến hết ngày 30/7/2024) Công ty cổ phần T không được sử dụng tài sản thuê do hành vi khoá cửa của bà H.
Đối với yêu cầu phản tố của bà H về yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại số tiền nộp thuế còn lại là 6.966.667 đồng và tiền lãi của số tiền 6.966.667 đồng kể từ ngày 22/5/2024 theo mức lãi suất 10%/năm, số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 696.000 đồng, phía nguyên đơn cho rằng: Trong Hợp đồng đã quy định rõ bà H phải là người có trách nhiệm đi kê khai và đóng tiền thuế đối với thu nhập từ hoạt động cho thuê tài sản. Trong trường hợp bà H đóng tiền thuế dư, bà H phải là người đi làm thủ tục kê khai làm việc với cơ quan thuế để xử lý số tiền thuế dư này chứ không phải là trách nhiệm của Công ty cổ phần T. Công ty cổ phần T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng thuê là thanh toán tiền thuê và tiền thuế cho bà H đến hết tháng 07/2024. Công ty cổ phần T chỉ thuê đến hết tháng 07/2024 thì đương nhiên sẽ chỉ trả tiền thuế đến hết tháng 07/2024 chứ không thể trả tiền thuế đến hết tháng 10/2024. Số tiền dư này bà H hoàn toàn có thể xử lý với cơ quan thuế nhưng bà H không xử lý và quy trách nhiệm cho Công ty cổ phần T là không phù hợp.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Ngày 20/01/2021, bà có ký Hợp đồng thuê tài sản với Công ty cổ phần T thời hạn là 10 năm (từ 20/4/2021 đến 30/4/2031). Đến đầu năm 2024, Công ty cổ phần T đã liên tiếp vi phạm hợp đồng như ép bà hạ giá thuê; không trả tiền thuê nhà và tiền khai thuế cho bà, cụ thể: Sau nhiều lần đối thoại, ngày 24/01/2024, Công ty cổ phần T chính thức lập biên bản ép buộc bà phải giảm giá thuê xuống 50%. Bà không đồng ý thì Công ty cổ phần T đã không trả tiền thuê nhà và tiền kê khai thuế cho bà ở kỳ tiếp theo nên bà đã gửi thông báo cho Công ty cổ phần T yêu cầu trả tiền, nếu Công ty cổ phần T không trả bà sẽ đóng cửa hàng của Công ty cổ phần T theo quy định của hợp đồng.
Đến ngày 25/5/2024, bà nhận được Công văn số 11245 về việc thanh lý hợp đồng trước thời hạn vào ngày 31/7/2024 của Công ty cổ phần T. Trong công văn, Công ty có nhắc nhở bà phải tuân thủ các nghĩa vụ và quyền theo Hợp đồng thuê đã ký kết nhưng Công ty vẫn không trả tiền thuê nhà và tiền thuế cho bà. Bà lại tiếp tục gửi thông báo cho Công ty. Ngày 04/6/2024, Công ty cổ phần T chuyển tiền thuê nhà cho bà từ 01/5 đến 31/7/2024 với số tiền là 62.700.000đ (không
trả 22.677.778 đồng tiền thuế). Bà lại gửi tiếp thông báo cho Công ty cổ phần T thì ngày 12/6/2024 Công ty mới chuyển cho bà số tiền thuế là 15.711.111 đồng, còn lại 6.966.667 đồng đến nay vẫn không trả.
Ngày 15/7/2024, Công ty cổ phần T bắt đầu chuyển hàng hóa về kho. Ngày 25/7/2024 Công ty cho một tốp thợ đến tháo dỡ các trang thiết bị phục vụ kinh doanh thì bà cũng có mặt ở đó để giám sát tốp thợ. Bà rất hỗ trợ Công ty thực hiện công việc tháo dỡ và không gây khó khăn trở ngại gì. Buổi chiều cùng ngày, tốp thợ đòi tháo dỡ các thiết bị gắn trên tài sản của bà mà trong quy định của hợp đồng không cho phép nên bà không đồng ý thì tốp thợ đã gọi điện cho người quản lý của Công ty cổ phần T đến giải quyết.
Sau khi hai bên giằng co, bà vẫn kiên quyết không cho Công ty cổ phần T, Công ty đã trình báo Công an xã là bà chiếm đoạt tài sản của Công ty. Sau khi Công ty cổ phần T vào làm việc với Công an xã S khoảng 1 tiếng thì quay lại bảo bà: “Cô chờ một tí để Công an ra giải quyết”. Bà đợi một lúc lâu vẫn không thấy Công an đến thì bà bảo Công ty cổ phần T: “Cô về qua nhà một tí, nếu Công an đến thì gọi cô ra”. Khi bà về đến nhà thì có bảo con trai bà ra để nắm bắt tình hình. Đến 19h vẫn không thấy Công an ra thì Công ty cổ phần T bảo con trai bà là mỗi bên khóa 1 khóa để bảo vệ hiện trường chờ mai Công an ra giải quyết (cửa ra vào của Công ty cổ phần T có 2 lớp, lớp bên trong là cửa kính, lớp bên ngoài là cửa cuốn. Công ty cổ phần T bảo con trai bà khóa cửa kính còn Công ty cổ phần T khóa cửa cuốn, lúc khóa cửa bà không có mặt ở đó nhưng có hàng xóm quay video việc con trai bà và Công ty cổ phần T cùng đồng thời khóa cửa ngày 25/7/2024 và cùng đồng thời mở cửa ngày 31/7/2024). Do đó không có việc bà tự ý ra khóa cửa cản trở không cho Công ty cổ phần T sử dụng tải sản thuê từ ngày 25/7/2024 đến hết ngày 30/7/2024.
Ngày 31/7/2024, Công ty cổ phần T cử cán bộ đến trao đổi trực tiếp với bà: Lập biên bản những thiết bị được đồng thuận giải quyết và những thiết bị không đồng thuận giải quyết để hai bên ký kết rồi thanh lý Hợp đồng. Bà đồng ý ký và hai bên đã thống nhất lập bảng kê; biên bản giao nhận tài sản.
Tại Điều 6 của Hợp đồng, cụ thể tại điểm e đã ghi rõ: “Khi Hợp đồng hết hạn mà không tiếp tục gia hạn, bên B (Công ty Cổ phần T) trả lại tài sản cho bên A (bà H) theo hiện trạng tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng. Để lại phần xây dựng cơ bản (cửa, nền gạch, la phông, 50% số lượng đèn chiếu sáng trong cửa hàng, mái nhà, trang thiết bị vệ sinh) và bên B (Công ty Cổ phần T) được quyền tháo dỡ các trang thiết bị phục vụ kinh doanh”. Tại điểm f cũng ghi rất rõ: “Trong mọi điều kiện bình thường mà bên B (Công ty Cổ phần T) đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn (bên A không vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào theo Hợp đồng này) thì có nghĩa vụ: Thông báo cho bên A biết trước 1 tháng; Không yêu cầu bên A chi trả tiền xây dựng sửa chữa nhà mà bên B đã đầu tư; Bên A không chịu trách nhiệm gì về các thiệt hại của việc chấm dứt Hợp đồng; Công ty Cổ phần T được thu hồi khoản tiền đã thanh toán trước còn lại chưa sử dụng hết thời gian (nếu có)”. Không có mục nào ghi Công ty cổ phần T được quyền tháo dỡ các trang thiết bị phục vụ kinh doanh. Trong trường hợp này là Công ty cổ phần T đơn phương chấm dứt
hợp đồng trước thời hạn nên phải thực hiện theo điểm f khoản 6.1 Điều 6 của hợp đồng. Do đó, bà không đồng ý trả lại cho Công ty cổ phần T mà Công ty cổ phần T khởi kiện.
Do Công ty cổ phần T vi phạm Điều 4 và Điều 6 của hợp đồng nhưng lại trình báo Công an để tố cáo bà chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần T thì việc hai bên thống nhất mỗi bên khóa 1 khóa để giữ nguyên hiện trường là điều cần thiết nên bà không có nghĩa vụ phải trả Công ty cổ phần T số tiền là 4.045.161 đồng.
Bà đã nộp tiền khai thuế cho Công ty cổ phần T theo quy định của Hợp đồng đến hết ngày 30/10/2024 tổng số tiền là 22.677.778 đồng (có hóa đơn thuế) nhưng Công ty cổ phần T mới trả bà 15.711.111 đồng, số tiền còn lại đến nay vẫn không trả là 6.966.667 đồng. Đồng thời, bà yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại bà số tiền nộp thuế còn lại là 6.966.667 đồng và tiền lãi của số tiền 6.966.667 đồng kể từ ngày 22/5/2024 theo mức lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 696.000 đồng.
Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ tài sản, tại Biên bản xem xét, thẩm định tài sản ngày 12/6/2025 thể hiện:
- Tại địa chỉ số A, đường H phường Đ, tỉnh Bắc Ninh có những tài sản sau: 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Điều hòa treo tường công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 08 mắt Camera; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 bộ báo trộm trung tâm và loa; 05 đầu B; 01 tủ điện tổng.
- Tại địa chỉ ngõ A, đường H phường Đ, tỉnh Bắc Ninh có những tài sản sau: 01 bộ Điều hòa treo tường công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 08 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 01 tủ trung tâm; 01 thang nhôm; 02 bộ lưu điện; 04 ắc quy; 10 bóng đèn bảng hiệu.
- Sau khi kiểm tra các tài sản đang tranh chấp, xác định còn thiếu tài sản là 02 đầu B.
Ngày 11/7/2025, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn bà H tự thoả thuận và thống nhất trị giá 02 đầu B hiện không còn; có trị giá là 500.000 đồng.
Tại Văn bản số 752/TCTS1-NVDTPC ngày 28/7/2025, Thuế cơ sở 1 tỉnh Bắc Ninh cung cấp như sau: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8; điểm b khoản 1 Điều 9; khoản 1, 2 Điều 14 của Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T1 hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thì nghĩa vụ kê khai và nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước đối với hoạt động cho thuê nhà (thuê tài sản) là của bà Nguyễn Thị Thu H (người có tài sản cho thuê), Công ty cổ phần T (bên đi thuê) kê khai và nộp thuế
vào Ngân sách Nhà nước trong trường hợp hợp đồng thuê tài sản có thỏa thuận bên đi thuê là người nộp thuế.
Về căn cứ, thời điểm tính thuế: Việc tính thuế của Chi cục Thuế đối với hoạt động cho thuê nhà giữa bà Nguyễn Thị Thu H và Công ty cổ phần T căn cứ vào hồ sơ khai thuế của bà Nguyễn Thị Thu H (tờ khai đối với hoạt động cho thuê tài sản theo Mẫu số: 01/TTS (Ban hành kèm theo Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ trưởng Bộ T1) cơ quan thuế tiếp nhận ngày 17/5/2024 và ngày 21/5/2024); cụ thể: Bà Nguyễn Thị Thu H (NNT) đã nộp vào Ngân sách Nhà nước với số tiền 22.677.778 đồng (nộp ngày 08/5/2024 với số tiền: 12.540.000 đồng, ngày 22/05/2024 với số tiền: 9.837.778 đồng) là tiền thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động cho thuê tài sản từ 01/01/2024 đến 31/10/2024.
Ngày 25/9/2024, Chi cục Thuế khu vực B1 - Y (nay là Thuế cơ sở 1 tỉnh Bắc Ninh) có nhận được Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Thu H đề nghị Chi cục Thuế xem xét hoàn số thuế đã nộp từ 31/7/2024 đến 30/10/2024. Theo nội dung đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H đã kê khai, nộp thuế từ 01/01/2024 đến 31/10/2024 với số thuế 22.677.778 đồng, nhưng đến ngày 04/6/2024 mới được bên B (Công ty cổ phần T) chuyển tiền thuê nhà cho bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán thời gian thuê từ 01/5/2024 đến 31/7/2024; số tiền thuế bà Nguyễn Thị Thu H đã nộp từ 31/7/2024 đến 30/10/2024 (03 tháng) bên B (Công ty cổ phần T) hướng dẫn bà Nguyễn Thị Thu H đến cơ quan thuế làm thủ tục xin hoàn thuế, do đó bà Nguyễn Thị Thu H đã làm đơn đề nghị gửi Chi cục Thuế khu vực B1 - Y (nay là T tỉnh Bắc Ninh).
Sau khi tiếp nhận đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị Thu H, Chi cục Thuế khu vực B1 - Y (nay là Thuế cơ sở 1 tỉnh Bắc Ninh) có mời bà Nguyễn Thị Thu H lên làm việc để làm rõ nội dung đề nghị và giải quyết theo quy định. Tại buổi làm việc, công chức Chi cục B1 đã nêu rõ “Cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; việc giao dịch cho thuê nhà và kê khai thuế thuộc trách nhiệm, nghĩa vụ của người nộp thuế trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật về thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Đồng thời, đề nghị bà Nguyễn Thị Thu H cung cấp chứng từ trả tiền thuê nhà (Công ty cổ phần T trả tiền thuê nhà cho bà Nguyễn Thị Thu H) cho Chi cục B1 chậm nhất ngày 05/10/2024 để có cơ sở hướng dẫn, hỗ trợ xử lý theo quy định. Đến nay, Chi cục Thuế không nhận được hồ sơ, chứng từ của bà Nguyễn Thị Thu H.
Về kê khai điều chỉnh: Theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T1: “d) Trường hợp bên thuê tài sản trả tiền trước cho nhiều năm thì cá nhân cho thuế tài sản khai thuế, nộp thuế một lần đối với toàn bộ doanh thu trả trước. Số thuế phải nộp một lần là tổng số thuế phải nộp của từng năm dương lịch theo quy định. Trường hợp có sự thay đổi về nội dung hợp đồng thuê tài sản dẫn đến thay đổi doanh thu tính thuế, kỳ thanh toán, thời hạn thuê thì cá nhân thực hiện khai điều chỉnh, bổ sung theo quy định của Luật Quản lý thuế cho kỳ tính thuế có sự thay đổi”.
Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 166 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần T về việc bà Nguyễn Thị Thu H phải trả lại các tài sản: 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Đ1 công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 16 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 tủ trung tâm; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 thang nhôm; 01 bộ báo trộm trung tâm (KS-899GSM)+loa; 05 đầu B; 01 tủ điện tổng; 02 bộ lưu điện UPS Sorotec NV 2400-1440W; 04 ắc quy 12V-26Ah; 10 bóng đèn bảng hiệu và số tiền 500.000 đồng là trị giá 02 đầu B.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H phải trả lại cho Công ty cổ phần T 4.045.161 đồng tiền thuê của những ngày Công ty cổ phần T không được sử dụng tài sản thuê do hành vi khoá cửa của bà H, từ ngày 25/7/2024 đến hết ngày 30/7/2024.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H về yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại số tiền thuế đã nộp là 6.966.667 đồng và tiền lãi của số tiền 6.966.667 đồng kể từ ngày 22/5/2024 theo mức lãi suất 10%/năm, số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 696.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 03/10/2025, bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và bổ sung thêm yêu cầu, nếu Công ty cổ phần T không trả bà H tiền thuế thu nhập đã nộp là 6.966.667 đồng và tiền lãi thì bà H yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại cho bà Hóa đơn nộp thuế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí: Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với yêu cầu của bà H về việc yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại cho bà Hóa đơn nộp thuế là không thuộc phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H phải trả lại các tài sản: 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Đ1 công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 16 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 tủ trung tâm; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 thang nhôm; 01 bộ báo trộm trung tâm (KS-899GSM)+loa; 05 đầu B; 01 tủ điện tổng; 02 bộ lưu điện UPS Sorotec NV 2400-1440W; 04 ắc quy 12V-26Ah; 10 bóng đèn bảng hiệu; 02 đầu B bằng trị giá tài sản là 500.000 đồng:
Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận, ngày 20/01/2021, Công ty cổ phần T ký Hợp đồng thuê tài sản số 2001/2021-HĐTTS ĐMM-SMA-BGI với bà Nguyễn Thị Thu H về việc thuê toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 72, địa chỉ: tổ C, khu C, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Khi thuê Tài sản thuê, Công ty cổ phần T đã mua và lắp đặt tại Tài sản thuê để phục việc kinh doanh của Công ty cổ phần T gồm có: 03 Bộ Đ chiều (5HP) MCD-50CRDN1 công suất 48.000BTU (Mỗi bộ gồm cục nóng và cục lạnh); 01 bộ Đ1 công suất 24.000BTU (Gồm cục nóng và cục L); 16 mắt Camera; 02 đầu thu Camera; 03 Ổ cứng HDD dung lượng 3TB; 06 đầu khói báo nhiệt; 01 tủ trung tâm; 01 bộ tổ hợp chuông đèn báo cháy; 01 thang nhôm; 01 bộ báo trộm trung tâm (KS-899GSM)+loa; 07 đầu B; 01 tủ điện tổng; 02 bộ lưu điện UPS Sorotec NV 2400-1440W; 04 ắc quy 12V-26Ah; 10 bóng đèn bảng hiệu. Ngày 12/6/2024, Công ty cổ phần T đã gửi đến bà Hà Công V số 11245/CV-TGDĐ-TL về việc thanh lý hợp đồng thuê trước hạn và bà H đã ký nhận Công văn này. Thời điểm chấm dứt hợp đồng ngày 31/7/2024, Công ty cổ phần T đã thanh toán tiền thuê cho bà H đến hết tháng 07/2024. Ngày 31/7/2024, Công ty cổ phần T và bà H đã lập Biên bản thanh lý hợp đồng thuê trước hạn.
Sau khi thanh lý hợp đồng, phía nguyên đơn là Công ty cổ phần T đã bàn giao lại Tài sản thuê cho bà H nhưng bà H vẫn giữ lại các tài sản trên do Công ty cổ phần T đã mua và lắp đặt tại Tài sản thuê để phục việc kinh doanh; không trả lại cho Công ty. Nhưng phía bị đơn là bà H lại cho rằng, theo Hợp đồng thuê không có mục nào ghi Công ty cổ phần T được quyền tháo dỡ các trang thiết bị phục vụ kinh doanh nên bà H không đồng ý trả lại tài sản.
Xem xét Hợp đồng thuê tài sản số 2001/2021-HĐTTS ĐMM-SMA-BGI ngày 20/01/2021, Hội đồng xét xử thấy: Tại điểm e Mục 6.1 quy định về nghĩa vụ của bên B như sau: “Khi Hợp
đồng hết thời hạn mà không tiếp tục gia hạn hợp đồng Bên B trả lại Tài sản thuê cho Bên A theo hiện trạng tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng, để lại phần xây dựng cơ bản (cửa, nền gạch, laphong, 50% số lượng đèn chiếu sáng trong cửa hàng, mái nhà, trang thiết bị nhà vệ sinh) và Bên B được quyền tháo gỡ các trang thiết bị phục vụ kinh doanh”. Các tài sản trên đều do Công ty cổ phần T đã mua và lắp đặt tại Tài sản thuê để phục việc kinh doanh. Hơn nữa, trong Hợp đồng thuê cũng không có điểm, khoản nào thể hiện bà H được phép giữ lại các tài sản này của Công ty cổ phần T. Do đó, việc bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà H phải trả lại toàn bộ các tài sản trên là có căn cứ.
[2.2]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H phải trả lại cho Công ty cổ phần T 4.045.161 đồng là tiền thuê của các ngày (từ ngày 25/7/2024 đến hết ngày 30/7/2024) mà Công ty cổ phần T không được sử dụng tài sản thuê do hành vi khoá cửa của bà H:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là Công ty cổ phần T đã xin rút đối với yêu cầu này. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự để chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2.3]. Đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại số tiền thuế đã nộp là 6.966.667 đồng và tiền lãi của số tiền 6.966.667 đồng kể từ ngày 22/5/2024 theo mức lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 696.000 đồng:
Tại điểm b mục 4.2 của Hợp đồng thuê tài sản số 2002/2021-HĐTTS ĐMM-SMA-BGI ngày 20/01/2021 thể hiện: “Bên A có nghĩa vụ kê khai và đóng các khoản thuế, lệ phí liên quan đên thu nhập từ việc cho thuê Tài S theo quy định pháp luật và cung cấp cho Bên B bản gốc hóa đơn, chứng từ đóng các khoản thuê này của bên A với cơ quan thuê địa phương. Bên B sẽ thanh toán lại tiền thuế cho Bên A trong vòng 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hóa đơn, chứng từ bản gốc do bên A gửi.”
Theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T1 quy định: “d) Trường hợp bên thuê tài sản trả tiền trước cho nhiều năm thì cá nhân cho thuế tài sản khai thuế, nộp thuế một lần đối với toàn bộ doanh thu trả trước. Số thuế phải nộp một lần là tổng số thuế phải nộp của từng năm dương lịch theo quy định. Trường hợp có sự thay đổi về nội dung hợp đồng thuê tài sản dẫn đến thay đổi doanh thu tính thuế, kỳ thanh toán, thời hạn thuê thì cá nhân thực hiện khai điều chỉnh, bổ sung theo quy định của Luật Quản lý thuế cho kỳ tính thuế có sự thay đổi”.
Như vậy, tại Hợp đồng thuê tài sản thì nghĩa vụ kê khai và nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước đối với hoạt động cho thuê nhà (thuê tài sản) là của bà Nguyễn Thị Thu H (người có tài sản cho thuê), Công ty cổ phần T sẽ hoàn trả tiền thuế cho bà H sau khi nhận được Hoá đơn, chứng từ
gốc của bà H. Ngày 08/5/2024, bà H đã nộp vào Ngân sách Nhà nước với số tiền 22.677.778 đồng là tiền thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động cho thuê tài sản từ 01/01/2024 đến 31/10/2024. Công ty cổ phần T đã trả bà H 15.711.111 đồng là tiền thuế từ ngày 01/01/2024 - 31/7/2024 mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Việc Công ty cổ phần T và bà H thanh lý hợp đồng thuê trước hạn (đến ngày 31/7/2024 chấm dứt hợp đồng thuê) là “Sự thay đổi về nội dung hợp đồng thuê tài sản dẫn đến thay đổi doanh thu tính thuế, kỳ thanh toán, thời hạn thuê” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ T1. Bà H là cá nhân có nghĩa vụ kê khai thuế thì phải có nghĩa vụ thực hiện khai điều chỉnh, bổ sung theo quy định của Luật Quản lý thuế cho kỳ tính thuế có sự thay đổi.
Tại Văn bản số 752/TCTS1-NVDTPC ngày 28/7/2025, Thuế Cơ sở 1 tỉnh Bắc Ninh cung cấp, tại buổi làm việc với bà H, công chức Chi cục B1 đã nêu rõ “Cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; việc giao dịch cho thuê nhà và kê khai thuế thuộc trách nhiệm, nghĩa vụ của người nộp thuế trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật về thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Đồng thời, Chi cục B1 đề nghị bà Nguyễn Thị Thu H cung cấp chứng từ trả tiền thuê nhà (Công ty cổ phần T trả tiền thuê nhà cho bà Nguyễn Thị Thu H) cho Chi cục B1 chậm nhất ngày 05/10/2024 để có cơ sở hướng dẫn, hỗ trợ xử lý theo quy định. Tuy nhiên, đến nay, Chi cục Thuế chưa nhận được hồ sơ, chứng từ của bà Nguyễn Thị Thu H.
Như vậy, bà H đã làm đơn kiến nghị đến Chi cục Thuế khu vực B1 (nay là T tỉnh Bắc Ninh), đã được giải thích rõ trách nhiệm của bà về việc khai điều chỉnh, bổ sung theo quy định của Luật Quản lý thuế nhưng bà H không cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ để được khai lại thuế. Công ty cổ phần T chỉ thuê đến hết tháng 07/2024 thì không phải trả tiền thuế đến hết tháng 10/2024. Do vậy, bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H là có căn cứ.
[2.4]. Đối với yêu cầu bổ sung của bà H tại phiên tòa phúc thẩm về việc yêu cầu Công ty cổ phần T trả lại cho bà tờ hóa đơn nộp thuế là vượt quá yêu cầu phản tố ban đầu và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên không được xem xét trong vụ án.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy rằng không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên tòa. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 18/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Hoàng Thị Hải Hường | Vương Thị Hà |
| Nguyễn Việt Hùng |
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND khu vực 1 - BN; - Phòng THADS khu vực 1 - BN; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vương Thị Hà |
Bản án số 187/2025/DS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 187/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
