Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 187/2025/DS-PT

Ngày: 18-3-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 857/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 286/2025/QĐPT-DS ngày 18 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Vĩnh H, sinh năm 1962 (vắng mặt).
  2. Bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn:

Ông Trương Quốc T, sinh năm 1971; Địa chỉ: khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Quốc T: Ông Phạm Hữu H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị O, sinh năm 1974; địa chỉ: khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị O: Ông Phạm Hữu H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

  1. UBND thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
  2. Ngân hàng N (vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội.

Người kháng cáo:

Bị đơn ông Trương Quốc T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Vĩnh H và là người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị Đ trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là ông H nhận chuyển nhượng đất của ông Lê Văn K (không biết địa chỉ ông K hiện nay ở đâu) vào năm 1992, có làm giấy tay vào ngày 26/3/1992, không có xác nhận của chính quyền địa phương, có sự chứng kiến của ông Trương Bạc K1 (chết) và ông Quách Văn S (chết). Ông nhận chuyển nhượng đất có chiều ngang 5,5m, chiều dài 40m, tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Vợ chồng ông sử dụng đất ổn định, liên tục từ năm 1992 đến năm 2022, không tranh chấp với ai. Vào tháng 10/2022 ông có đến cơ quan chuyên môn để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết phần đất ông đang quản lý, sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận cho ông Trương Quốc T.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trương Quốc T trả phần đất cho vợ chồng ông có diện tích theo đo đạc thực tế là 49,7 m², đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Trần Thị O) trình bày:

Nguồn gốc đất là của cha mẹ ông Trương Quốc T, cha tên Trương Bạc K1 (chết năm 2011), mẹ tên Trần Thị H2 (chết năm 2019). Năm 1992 vợ chồng ông T đến xin cất nhà ở nhờ trên phần đất hai bên đang tranh chấp. Đến năm 1995 ông K1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3.000 m², bao gồm cả phần đất tranh chấp 49,7 m² với vợ chồng ông H2. Đến năm 2006 thì ông K1, bà H2 tặng cho ông T 3000 m² diện tích đất nêu trên. Ông T đã được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/10/2006 đối với thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, diện tích là 203m², đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (trong đó có phần đất tranh chấp 49,7 m²) và một số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác.

Hiện tại phần đất tranh chấp đang do vợ chồng ông H2, bà Đ quản lý sử dụng (phần nhà sau của ông H2). Lý do là vì gia đình ông H2 gặp khó khăn về chỗ ở nên gia đình ông T cho ở tạm trên đất từ năm 1992 đến nay. Khi cho ở tạm chỉ nói miệng, không làm giấy tờ gì.

Do đất là cho mượn ở nhờ và ông T cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T, bà O không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông H2, bà Đ.

Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H2 và bà Đ giao trả diện tích theo đo đạc thực tế là 49,7 m² đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N trình bày:

Hiện tại ông Trương Quốc T đang nợ Ngân hàng N- chi nhánh thị xã G số tiền 150.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Trong quá trình vay vốn ông Trương Quốc T thực hiện đúng theo hợp đồng đã ký, trả nợ gốc, lãi đúng thời gian quy định. Ngân hàng không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND thị xã G trình bày:

Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

- Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, 147, 157, Điều 165, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 106, Điều 203 Luật đất đai;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ yêu cầu ông Trương Quốc T trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 49,7m² đất tọa lạc khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu do hiện tại ông H, bà Đ đang trực tiếp quản lý sử dụng đất.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Quốc T yêu cầu ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 49,7m² có tứ cạnh như sau:
  • Hướng Đông giáp đất ông Trương Quốc T có số đo 9,5m
  • Hướng Tây giáp đất bà Nguyễn Thị H3 có số đo 9,5m
  • Hướng Nam giáp đất ông Lê Vĩnh H có số đo 5,5m
  • Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị H3 có số đo 5,15m
  • Diện tích 49,7m².

Đất tranh chấp toạ lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17/6/2024, bị đơn ông Trương Quốc T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Phạm Hữu H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự khác vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện ý kiến.

Trong phần tranh luận, đương sự trình bày như sau:

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Phạm Hữu H1 trình bày: Phía nguyên đơn cho rằng nhận chuyển nhượng đất của ông Lê Văn K nhưng chỉ cung cấp được giấy tay chuyển nhượng. Thời điểm đó ông K chưa có quyền sử dụng hợp pháp, nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ về việc ông K đã giao đất cho nguyên đơn. Gia đình ông T cho gia đình ông H ở trên đất từ năm 1992 đến nay, khi cho ở tạm chỉ nói miệng, không làm giấy tờ gì. Gia đình ông T đã ở trước khi gia đình ông H đến ở. Việc cấp giấy cho ông T là đúng trình tự, thủ tục quy định. Gia đình ông H cũng biết việc cấp giấy nhưng không có phản đối gì. Do đó có đủ căn cứ xác định đất tranh chấp là của ông T, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật: Xét thấy, Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn, bị đơn thống nhất xác định phía ông T, bà Đ quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp 49,7 m² đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu từ năm 1992 đến năm 2022 thì phát sinh tranh chấp. Hiện tại ông T, bà Đ vẫn đang quản lý sử dụng diện tích đất nêu trên. Phía ông T cho rằng diện tích đất tranh chấp 49,7 m² là cha mẹ ông T cho vợ chồng ông H, bà Đ mượn ở nhờ tuy nhiên không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời xác định này. Do đó bản án sơ thẩm đã xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Trương Quốc T làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trương Quốc T trả lại phần đất diện tích 49,7 m² và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m², thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).

Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37 và Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trương Quốc T:

[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của ông H, bà Đ yêu cầu ông Trương Quốc T trả phần đất cho vợ chồng ông H diện tích theo đo đạc thực tế là 49,7 m² đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu):

Phía ông H xác định nguồn gốc đất tranh chấp là ông nhận chuyển nhượng đất của ông Lê Văn K (không biết địa chỉ ông K hiện nay ở đâu) vào năm 1992, có làm giấy tay vào ngày 26/3/1992, không có xác nhận của chính quyền địa phương, có sự chứng kiến của ông Trương Bạc K1 (chết) và ông Quách Văn S (chết). Đất có chiều ngang 5,5m, chiều dài 40m, tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên, hiện tại ông K1, ông S đã chết, ông K thì không rõ địa chỉ, nên Toà án không tiến hành xác minh được.

Phía ông T cho rằng diện tích đất tranh chấp 49,7 m² là cha mẹ ông T cho vợ chồng ông H, bà Đ mượn ở nhờ, tuy nhiên ông T không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này.

Quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn, bị đơn thống nhất xác định phía ông H, bà Đ quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp 49,7 m² đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu từ năm 1992 đến năm 2022 thì phát sinh tranh chấp. Hiện tại ông H, bà Đ vẫn đang quản lý sử dụng diện tích đất nêu trên.

Tại biên bản xác minh ngày 06/10/2023, ông Phạm Thanh L là Trưởng khóm B, phường L (bút lục 91) xác định “... ông H quản lý sử dụng đất từ năm 1992, khi ông H cất nhà không ai ngăn cản, từ năm 1992 đến năm 2021 không tranh chấp đến năm 2022 mới tranh chấp với ông T”.

Theo quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự: Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Như vậy, phần đất diện tích 49,7 m², tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu do vợ chồng ông H đã sử dụng liên tục 30 năm (từ năm 1992 đến năm 2022).

Mặt khác, qua xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Quốc T thể hiện có việc ký giáp ranh. Ông H có đất giáp ranh với thửa đất 339 của ông T nhưng ông H không ký giáp ranh. Diện tích đất tranh chấp 49,7m² từ năm 1992 đến nay do ông H quản lý, sử dụng nhưng UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Quốc T là không đúng đối tượng sử dụng đất.

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai thì việc cấp sai vị trí, chồng lấn ranh giới và không đúng hình thể, không đúng đối tượng... thì phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại cho đúng vị trí thực tế sử dụng đất.

Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Vĩnh H, bà Lâm Thị Đ về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu). Không chấp nhận yêu cầu của ông H, bà Đ yêu cầu ông T trả diện tích đất qua đo đạc thực tế là 49,7 m², đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu do thực tế diện tích đất 49,7 m² nêu trên ông H, bà Đ đang trực tiếp quản lý sử dụng.

[2.2] Xét yêu cầu phản tố của ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà Đ giao trả diện tích theo đo đạc thực tế là 49,7 m² đất tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, nhận thấy:

Như đã phân tích ở phần [2.1], phần đất diện tích 49,7 m², tọa lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu là thuộc quyền sử dụng của ông H, bà Đ. Phía ông T cho rằng ông H, bà Đ sử dụng đất là do cha ông T cho ở nhờ nhưng ông H, bà Đ không thừa nhận. Ngoài lời trình bày thì ông T không có chứng cứ gì chứng minh phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T.

[3] Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trương Quốc T kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào mới làm thay đổi nội dung vụ án, do đó kháng cáo của ông T là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trương Quốc T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Không chấp nhận kháng cáo

của bị đơn ông Trương Quốc T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, 147, 157, Điều 165, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 106, Điều 203 Luật đất đai;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trương Quốc T do UBND huyện G (nay là thị xã G) cấp ngày 27/10/2006 đối với diện tích 203m² thuộc thửa đất số 339, tờ bản đồ số 13, đất tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu).

  1. [2] Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ yêu cầu ông Trương Quốc T trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 49,7m² đất tọa lạc khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu do hiện tại ông H, bà Đ đang trực tiếp quản lý sử dụng đất.
  2. [3] Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Quốc T yêu cầu ông Lê Vĩnh H và bà Lâm Thị Đ trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 49,7m² có tứ cạnh như sau:
  • Hướng Đông giáp đất ông Trương Quốc T có số đo 9,5m
  • Hướng Tây giáp đất bà Nguyễn Thị H3 có số đo 9,5m
  • Hướng Nam giáp đất ông Lê Vĩnh H có số đo 5,5m
  • Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị H3 có số đo 5,15m
  • Diện tích 49,7m².

Đất tranh chấp toạ lạc tại khóm B, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

  1. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trương Quốc T phải nộp án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 313 ngày 17/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu. Ông T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  2. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. [6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Minh Vương Minh Tâm
Đinh Ngọc Thu Hương

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vương Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 187/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 187/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Quốc T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger